Review đặc điểm dịch Covid tới 12/10/2021

62 min read

1. Tình hình thế giới: dịch tễ, những phát hiện về sinh bệnh học, đặc điểm lâm sàng, tử vong

Số ca nhiễm qua các đợt dịch

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến 8/10/2021, cả thế giới có 236,599,025 người nhiễm SARS-Cov-2, trong đó có 4,831,486 ca tử vong và đến 9/10/2021 đã có 6,364,021,792 liều vaccine đã được chích[1].

WHO và các tổ chức y tế quốc tế khác thường đề cập đến “làn sóng” của một đại dịch, nhưng không có định nghĩa chính thức nào tồn tại. Có thể hiểu một làn sóng/đợt dịch được đề cập đến là khi có một số lượng gia tăng các trường hợp COVID-19, có một đỉnh cụ thể và sau đó giảm xuống trên biểu đồ các ca bệnh mới được phát hiện mỗi ngày. Trong báo cáo này, một đợt dịch cũng được hiểu là như vậy.

Khi đại dịch COVID-19 bắt đầu vào đầu năm 2020, các chuyên gia trên thế giới đã tự hỏi liệu có xuất hiện những làn sóng (waves) ca bệnh (gọi tắt là đợt dịch) hay không, một mô hình thường thấy ở các đại dịch virus khác. Cho đến nay, các nhà khoa học và quản lý trên thế giới đều xác định thế giới đã trải qua 4 đợt dịch COVID-19, tuy nhiên, thời gian của các đợt dịch là không giống nhau giữa các quốc gia vì các đợt dịch có tính làn sóng lan từ quốc gia này đến quốc gia khác, và như vậy đợt dịch tính chung trên toàn thế giới là một khoảng thời gian khá rộng.

Một cách tương đối, đợt dịch thứ 1 trên thế giới được tính từ khi bắt đầu đại dịch cho đến tháng 6/2020 (29/6) với tổng số hơn 11 triệu ca nhiễm, đợt dịch thứ 2 từ tháng 7 cho đến tháng 10 năm 2020 với khoảng 40 triệu ca (tính đến 2/11), đợt dịch thứ 3 từ tháng 11/2020 đến tháng 4/2021 với khoảng 100 triệu ca nhiễm và đợt dịch thứ 4 tháng khoảng tháng 5/2021 cho đến nay với khoảng 86 triệu ca nhiễm[2] [3]. Tuy nhiên đợt dịch thứ 4 là cách mà truyền thông toàn cầu sử dụng, còn theo WHO, đây là đợt gia tăng đột biến của dịch do chủng Delta từ đợt dịch thứ 3[4] [5].

Hình 1 cho thấy các quốc gia Đông Nam Á đang chịu ảnh hưởng rất lớn trong đợt dịch 3 và đặc biệt là đợt dịch thứ 4, khi số ca mắc cao hơn nhiều so với 2 đợt dịch trước đó. Cũng giống như các quốc gia khác trong khu vực như Singapore và Indonesia, tại Việt Nam, đợt dịch 4 là đợt dịch trầm trọng nhất (Hình 2).

Hình 1. Biểu đồ số ca COVID-19 được ghi nhận theo ngày tại các khu vực

Hình 2. Biểu đồ số ca mắc mới COVID-19 theo ngày trên 1 triệu người tại Việt Nam và các quốc gia [6]

Tỷ lệ tử vong

Khi đánh giá tử vong do COVID-19, ngoài ghi nhận số ca tử vong được xác nhận/báo cáo trong ngày, để có thể so sánh giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế đã sử dụng số ca tử vong được báo cáo trong ngày tính trên 1 triệu dân. Có sự hiệu chỉnh này là vì sự khác biệt về quy mô dân số giữa các quốc gia thường lớn và số tử vong do COVID-19 ở các quốc gia đông dân hơn có xu hướng cao hơn; do đó, cần tính số ca tử vong được xác nhận ở một quốc gia so với số người sống ở đó. Hình 3 cho thấy mặc dù số ca tử vong trong ngày/1 triệu dân của Việt Nam thấp hơn Mỹ hay Indonesia, tuy nhiên so với các đợt dịch trước đó, chúng ta đã chịu ảnh hưởng nặng nề trong đợt dịch thứ 4 này.

Hình 3. Biểu đồ số ca tử vong được xác nhận/báo cáo trong ngày trên 1 triệu dân tại một số quốc gia6

Cũng theo cách tính này, số liệu thống kê của Trường đại học Jonhs Hopkins (Mỹ) tính số ca tử vong/100,000 dân và Việt Nam đứng thứ 20 trên toàn thế giới với 21,43 ca tử vong/100,000 người (Hình 4).

Hình 4. Biểu đồ số ca COVID tử vong/100,000 dân tại các quốc gia xếp theo thứ tự giảm dần[7]

Ngoài chỉ số trên, mức độ tử vong của bệnh còn được đánh giá bởi CFR (case-fatality rate: tỷ lệ tử vong ca bệnh hay tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh) được tính bằng số ca tử vong do/liên quan đến COVID-19 chia cho số ca nhiễm COVID-19. Có một số vấn đề liên quan đến xác định tử số và mẫu số trong cách tính này, ví dụ khó/không thể xác định được số ca mắc COVID trong cộng đồng (do đó mẫu số này thường được dùng là số ca mắc được ghi nhận/báo cáo – thường là thấp hơn số ca thật trong cộng đồng) và cũng khó/không thể xác định được chính xác số ca tử vong do/liên quan đến COVID vì có thể có các ca tử vong trong cộng đồng không được ghi nhận. Mặc dù vậy, chỉ số CFR thường được sử dụng để theo dõi và so sánh giữa các quốc gia khác nhau. Thống kê của Trường đại học Jonhs Hopkins (Mỹ) thì CFR tại Việt Nam là 2,5%, xếp vị trí 8 trên thế giới (Hình 5) và thống kê của tổ chức Our World in Data thì CRF tại Việt Nam là 2,45%[8].

Hình 5. Biểu đồ CFR của COVID tại các quốc gia xếp theo thứ tự giảm dần

Hậu Covid

Hậu quả của các đợt dịch vừa qua đã cho thấy những tác động rất lớn về sức khỏe có liên quan trực tiếp đến COVID-19. Cùng với số người chết khủng khiếp, vẫn còn chưa kể đến số người đang sống với hậu quả kéo dài của Hội chứng hô hấp cấp tiến triển (ARDS) do vi rút gây ra. Đối với một số người, ngay cả được đánh giá là mắc COVID-19 nhẹ cũng có thể suy nhược trong nhiều tháng liên tục sau đó, khi họ đã khỏi bệnh về mặt lâm sàng.

Ngoài ra, hậu quả của các đợt dịch về trung hạn còn do các biện pháp được thực hiện để hạn chế sự lây lan của COVID-19, bao gồm, ví dụ với nhiều người, đó là việc trì hoãn đến cơ sở y tế vì sợ bị nhiễm COVID-19 hoặc không có CSYT để điều trị do chuyển sang điều trị COVID vì quá tải, những người mắc bệnh đang tiến triển mà cuộc hẹn tái khám bị dời lại; và những người bỏ lỡ việc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Câu hỏi về việc làm thế nào để các CSYT điều hướng các công việc tồn đọng và quay trở lại trạng thái cung cấp dịch vụ CSSK như bình thường vẫn chưa được giải đáp một cách thỏa đáng. Các ảnh hưởng này còn bị trầm trọng thêm vì tình trạng bất bình đẳng về tiếp cận và chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm chịu tổn thương kinh tế khác nhau, và chủ yếu các nhóm là giao thoa giữa nghèo đói và sức khỏe kém sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Như vậy, các vấn đề hậu COVID bao gồm các vấn đề về cá thể (người mắc bệnh COVID và những người cần CSYT khác, người nghèo, người bị tổn thương không phải vì mắc bệnh mà vì các mất mát khác như người thân, việc làm và thu thập….) và hệ thống y tế (không đề cập đến các vấn đề về kinh tế xã hội trong báo cáo này).

2. Vi rút học

Đường lây truyền và nơi lây truyền

Đường lây

Cho đến tháng 5/2021, CDC Hoa Kỳ đã xác định phương thức lây truyền SARS-CoV-2 giữa người-và-người là thông qua tiếp xúc với các chất dịch hô hấp mang vi rút. Phơi nhiễm xảy ra theo ba cách chính: (1) hít phải các giọt và hạt khí dung, (2) lắng đọng các giọt và hạt hô hấp trên màng nhầy bị phơi nhiễm ở miệng, mũi hoặc mắt do bị bắn/xịt trực tiếp, và (3 ) chạm vào màng nhầy bằng tay đã bị dính bẩn một cách trực tiếp với dịch hô hấp có chứa vi rút hoặc thông qua gián tiếp bằng cách chạm vào bề mặt có vi rút trên đó[9]. Cụ thể:

  • Hít phải giọt bắn trong không khí: Hít phải không khí mang theo những giọt rất nhỏ và các hạt khí dung có chứa vi rút. Nguy cơ lây truyền là lớn nhất trong vòng ba đến sáu feet từ nguồn lây nhiễm (là nơi có nồng độ của những giọt và hạt khí dung này lớn nhất).
  • Sự lắng đọng của vi rút được mang theo trong các giọt và hạt khí dung ra trên các màng nhầy tiếp xúc (nghĩa là theo cơ chế “bắn và xịt”, ví dụ như khi bị người nhiễm ho bắn vào người). Tương tự như trên, nguy cơ lây truyền là lớn nhất khi ở gần với nguồn lây nhiễm nhất.
  • Tiếp xúc bề mặt bị nhiễm: dùng tay sờ vào màng nhầy bị nhiễm bẩn do dịch hô hấp thở/văng ra có chứa vi rút hoặc do chạm vào các bề mặt các vật liệu bị nhiễm vi rút (ví dụ bàn, giường bệnh…)

Nơi lây truyền

Trong một NC tổng quan hệ thống cho thấy hộ gia đình là nơi có tỷ lệ lây truyền cao nhất, với tỷ suất tấn công thứ phát là 21,1%. Tỷ suất tấn công này còn cao hơn đáng kể khi thời gian phơi nhiễm trong gia đình vượt hơn 5 ngày[10]. Trong khi đó, một số NC khác đã cho thấy khả năng truyền SARS-CoV-2 ở không gian ngoài trời thấp so với trong nhà/phòng kín[11].

Trong một NC khác đã ước tính tỷ suất tấn công thứ phát đối với các ca chỉ điểm (index case) không có triệu chứng là khoảng 14%, và tỷ suất này vào khoảng 66,7% đối với các ca chỉ điểm có triệu chứng. Điều này có nghĩa là khả năng lây truyền của các ca bệnh có triệu chứng cao hơn các ca không triệu chứng.

Tải lượng vi rút

Các yếu tố liên quan đến tải lượng

Một NC tổng quan hệ thống đã báo cáo tải lượng vi rút (định lượng qua RNA) trong các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên đạt giá trị cao nhất xung quanh thời điểm khởi phát triệu chứng hoặc một vài ngày sau đó, và không thể phát hiện được khoảng hai tuần sau khi khởi phát triệu chứng. Điều này có nghĩa là có thể các xét nghiệm khẳng định nhiễm SARS-Cov-2 (ví dụ RT-PCR) vẫn còn dương tính 2 tuần sau khi khở phát triệu chứng, nhưng nguy cơ lây truyền cho người khác là thấp vì tải lượng vi rút ở đường hô hấp trên là thấp. Một vài NC đưa ra bằng chứng về việc phát hiện vi rút trong 1 thời gian dài ở các mẫu phân, tuy nhiên ý nghĩa lâm sàng là không rõ ràng[12].

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối tương quan dương giữa tải lượng vi rút và tuổi của người bệnh. Một NC đã phân tích 25.381 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cho thấy trẻ em và thanh thiếu niên có tải lượng vi rút dương tính ở thời điểm được XN lần đầu tiên thấp hơn so với người lớn ở độ tuổi 20-65[13] [14]. Điều này có thể được hiểu là khả năng phát tán vi rút của trẻ em và thanh thiếu niên có khả năng thấp hơn so với người lớn. Tuy nhiên, cũng giống như người lớn, ở các ca bệnh trẻ em dương tính với SARS-Cov-2 thì trẻ có triệu chứng cũng có tải lượng vi rút cao hơn trẻ không có triệu chứng[15].

Một phân tích về tải lượng vi-rút trong các giọt bắn do bệnh nhân COVID-19 phát ra cho thấy hạt khí dung mịn (≤5μm) tạo ra trong quá trình nói chuyện (hoặc ca hát) chứa nhiều tải lượng vi-rút hơn so với hạt khí dung thô (> 5μm). Ngoài ra, hoạt động nói chuyện (hoặc ca hát) phát tán ra 1 lượng RNA vi rút có thể phát hiện được khi XN trong các hạt khí dung cao hơn hơn đáng kể so với hoạt động thở[16]. Điều này cho thấy các biện pháp giữ khoảng cách khi giao tiếp giữa người với người là cực kỳ quan trọng.

Tải lượng vi rút và mức độ trầm trọng của bệnh

Các bằng chứng về mối liên quan giữa tải lượng vi rút và mức độ trầm trọng của bệnh còn khá lẫn lộn. Một vài NC chỉ ra rằng tải lượng vi rút là như nhau ở các ca bệnh không và có triệu chứng[17]. Một số NC cho thấy có mối liên quan giữa tải lượng virus và mức độ nghiêm trọng/tử vong của bệnh. Một NC với mẫu bệnh phẩm quệt tỵ hầu cho thấy đối với mỗi đơn vị RNA vi rút được phát hiện tăng lênthì nguy cơ tử vong tăng 7%, trong khi đó một NC khác thì chỉ ra rằng tải lượng vi rút khi nhập viện không liên quan với nhập viện hoặc tử vong tại ICU[18] [19].

Tải lượng vi rút và khả năng lây nhiễm

Cho đến nay, có Ít nhất năm nghiên cứu đã mô tả mối tương quan giữa tải lượng vi rút giảm thì giảm khả năng lây nhiễm và ngược lại[20] [21] [22]. Đặc biệt trong 1 NC tại Thụy Sĩ đã cho thấy kích thước (độ lớn) của 1 chùm lây nhiễm có liên quan dương với sự hiện diện của các bệnh nhân có tải lượng vi rút cao trong các chùm lây nhiễm này [23].

Thời gian phát tán vi rút

Một tổng quan hệ thống được xuất bản vào tháng 1 năm 2021 đã cho biết thời gian loại bỏ RNA của vi rút  ở đường hô hấp trên trung bình là 17 ngày (dài nhất là 83 ngày), và ở đường hô hấp dưới là 14,6 ngày (dài nhất là 59 ngày) , trong phân là 17,2 ngày (dài nhất là 126 ngày), và trong mẫu huyết thanh là 16,6 ngày (dài nhất là 60 ngày)[24]. Thời gian loại bỏ vi rút sau khi phân tích gộp các kết quả nhiều NC khác nhau cho thấy có liên quan thuận với tuổi, nghĩa là tuổi BN càng lớn thì thời gian loại bỏ vi rút càng kéo dài. Một tổng quan hệ thống khác được công bố vào tháng 3 năm 2021 cũng đã báo cáo những phát hiện tương tự[25]. Ngoài ra, các BN suy giảm miễn dịch có thời gian phát tán virus  ở đường hô hấp trên dài hơn -nghĩa là thời gian loại bỏ vi rút lâu hơn (trung bình là 50,5 ngày, trong khoảng 35-74 ngày)[26].

Một phát hiện quan trọng nữa là không có nghiên cứu nào phát hiện vi rút sống sau ngày thứ 9 của bệnh, mặc dù tải lượng vi rút có thể cao liên tục. Tải lượng vi rút SARS-CoV-2 ở đường hô hấp trên dường như đạt đỉnh trong tuần đầu tiên của bệnh[27]. Điều này rất quan trọng trong việc quyết định thời gian theo dõi BN tại BV cũng như thời gian XN lại để đánh giá khả năng xuất viện của BN.

Thời gian ủ bệnh

Thời gian ủ bệnh trung bình đối với COVID-19 là 4,9 – 7 ngày, với phạm vi từ 1 – 14 ngày[28]. Hầu hết những người bị nhiễm bệnh sẽ phát triển các triệu chứng trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhiễm bệnh. Một tổng quan hệ thống gần đây đã cho thấy rằng thời gian ủ bệnh trung bình sau khi phân tích gộp các kết quả NC khác nhau là 6,5 (KTC 95%: 5,9-7,1)[29].

Động học của sự lây truyền

Virus có động lực lây truyền không đồng nhất giữa các NC[30]. Hầu hết mọi người không lây truyền vi rút, trong khi một số người lại gây ra nhiều ca nhiễm thứ cấp trong các chùm lây truyền và được gọi là “sự kiện siêu lây lan”[31]. Một số ước tính ban đầu cho thấy 80% các ca nhiễm thứ phát là phát sinh từ 8,9% các ca chỉ điểm[32].

Tỷ suất tấn công thứ phát (Secondary attack rate)

Một phân tích gộp meta-analysis của 54 nghiên cứu với 77.758 người tham gia đã cho thấy tỷ lệ tấn công thứ cấp nói chung trong hộ gia đình có người nhiễm là khoảng 16,6%[33]. Tỷ lệ tấn công thứ cấp trong hộ gia đình cao hơn trong trường hợp hộ gia đình có ca chỉ điểm có triệu chứng so với các hộ gia đình có ca chỉ điểm không có triệu chứng; cao hơn trong các tiếp xúc ở người lớn so với tiếp xúc trẻ em; ở mối liên hệ vợ chồng so với các liên hệ khác trong gia đình; và ở các hộ có 1 liên hệ (hiểu nôm na là ít thế hệ sinh sống trong 1 gia đình) so với các hộ có 3 hoặc nhiều liên hệ hơn (nhiều thế hệ hơn).

Đối với các CSYT, tỷ suất tấn công thứ phát vào khoảng 0,7% (tuy nhiên tỷ suất này có khoảng giao động rất rộng – 95%CI: 0,4%-1,0%)[34]. Điều này là do ở mỗi vị trí hoặc sử dụng các thủ thuật can thiệp điều trị khác nhau thì nguy cơ nhiễm bệnh là khác nhau. Ví dụ một tổng quan hệ thống và phân tích gộp cho thấy nguy cơ lây nhiễm của NVYT khi đặt nội khí quản có OR là 6,69 (95% CI, 3,81-11,72), thông khí không xâm lấn OR= 3,65 (95% CI, 1,86-7,19)…[35].

Ngoài ra còn 1 số ít NC về tỷ suất tấn công thứ phát ở các địa điểm khác[36], nên chưa có tổng quan hay phân tích gộp để đánh giá điều này. Tuy nhiên, tỷ suất tấn công thứ phát cao (cho thấy nguy cơ lây truyền cao) đã được chỉ ra trong 1 số NC như tỷ suất tấn công thứ phát trong khi tham gia 1 cuộc họp (84,6%), tụ tập trong một căn nhà gỗ (73,3%) và trong 1 dàn hợp xướng (70,4%, 53,3%). Tỷ suất này cũng tương đối cao trong các bối cảnh cùng ăn uống (38,8%, 28,6%), đi du lịch (80,8%, 46,6%), hoặc trong một sự kiện tôn giáo (14,8%). Một tổng quan các bằng chứng nhanh ước tính rằng tỷ suất tấn công thứ phát tại nhà trẻ và trường học là 2,54 ca nhiễm trên mỗi một ca chỉ điểm (KTC 95%: 0,76 – 5,31) và là 0,5% các trường hợp tiếp xúc gần ca chỉ điểm là trẻ em (KTC 95% = 0,1-1,6)[37]. Các bằng chứng này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra các quyết định mở cửa trường học hoặc khuyến cáo các hoạt động được cho phép.

Các biến thể vi rút cần quan tâm và theo dõi

Alpha (B.1.1.7) Beta (B.1.135) Gamme (P1) Delta (B.1.617.2)
Thời gian và địa điểm phát hiện lần đầu Anh

Tháng 9/2020

Nam Phi

Tháng 5/2020

Brazil

Tháng 11/2020

Ấn Độ

Tháng 10/2020

Đột biến 23 (17 trong số đó là thay đổi các amino acids)

 

Bao gồm thay thế N501Y

21 (8 trong số đó là thay đổi các amino acids)

 

Bao gồm thay thế N501Y

17 (11 trong số đó là thay đổi các amino acids)

 

Bao gồm thay thế N501Y

12

 

Bao gồm các đột biến gai L452R, E484Q và D614G và thiếu các đột biến ở vị trí amino acid 501 hoặc 484 trong thụ thể ACE2

 

Thay đổi P681R là 1 tính chất đặc biệt quan trọng của Delta*^

 

Được đặc trưng bởi sự dư thừa của các đột biến không đồng nghĩa (non-synonymous mutations),

 

Các dòng con có “bí danh” là AY. Delta-AY.1 (Delta với K417N)

Khả năng lây so với chủng đầu tiên Ước tính chủng này có Ro cao hơn 43–90% so với chủng hoang dã trước đây. Ro:3.5-5.2[38]

 

Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[39],[40]

Ước tính tỷ suất lây nhiễm cao hơn ở nhóm trẻ em từ 0-9 tuổi[41],[42].

Khả năng lây truyền gia tăng và ước tính là gấp 2.5 lần so với chủng hoang dã[43],[44] Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[45],[46] Ro: 3.2 – 8, trung bình là 5.0.

 

Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[47] đối với các tiếp xúc trong hộ gia đình và ngoài hộ gia đình[48].

 

Ước tính tải lượng virus cao hơn 2,5 lần so với các biến thể khác[49]. Tải lượng vi rút tương tự giữa người được tiêm chủng và người chưa được tiêm chủng[50].

 

 

 

Dữ liệu từ Anh cho thấy thời gian nhân đôi là 25 ngày[51]. Trung bình thời gian tiềm ẩn/âm thầm và thời gian ủ bệnh ước tính lần lượt là 4,0 ngày và 5,8 ngày[52]

Độc lực Tăng nguy cơ nhập viện, có khả năng tăng nguy cơ nghiêm trọng và tử vong[53],[54]

 

Nhiễm trùng trung bình kéo dài 13,3 ngày so với 8,2 ngày đối với các biến thể khác[55]

Có thể tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong trong bệnh viện[56]. Có thể tăng nguy cơ nhập viện[57] và mức độ nghiêm trọng của bệnh[58]. Tăng nguy cơ cần chăm sóc cấp cứu và nhập viện[59], bao gồm tăng nguy cơ sử dụng oxy, nhập viện chăm sóc đặc biệt và có thể tăng nguy cơ tử vong[60]

 

Đề kháng với Bamlanivimab[61] nhưng được ức chế hiệu quả với Etesevimab, Imdevimab và Casirivimab/ Imdevimab[62]

 

Một vài NC gợi ý là triệu chứng có thể khác với chủng hoang dã[63].

 

Thời gian mắc bệnh ước tính cho trẻ em là 5 ngày, với các triệu chứng bao gồm nhức đầu và sốt[64]

Tình trạng thoát vắc xin
Pfizer Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine với một số nghiên cứu cho thấy mức giảm hiệu quả vắc xin là 11,30 lần[65]
AstraZeneca Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine
Moderna Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine
Novavax Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm >=30% hiệu quả của vaccine Hiệu quả giảm[66]
J&J Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm >=30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm <10% hiệu quả của vaccine
Vắc xin khác Sinovac-CoronaVac: giảm đáng kể dung lượng kháng thể trung hòa[67] Bharat-Covaxin (BBV152): mức độ trung hòa với ước tính giảm 3 lần[68].

Sinovac-CoronaVac: giảm đáng kể khả năng trung hòa kháng thể[69]

Sinovac-CoronaVac: ước tính giảm <10% hiệu quả của vaccine Sự lây truyền có liên quan đến sự trốn thoát khỏi các kháng thể nhắm mục tiêu đến các biểu mô gai không RBD và RBD[70]

 

Dưới đây là các báo cáo về Biến thể được quan tâm (VOI) được cập nhật trong các tài liệu chưa đăng tải chính thống:

Các VOI đươc WHO liệt kê:  Lambda (C.37) và Mu (B.1.621).

  • Biến thể Mu (B.1.621) được xem là 1 VOI vào ngày 30 tháng 8 năm 2021. Biến thể này bao gồm hậu duệ của Pango B.1.621.1. Biến thể Mu có một loạt các đột biến đặc tính tiềm ẩn của khả năng trốn thoát miễn dịch. Biến thể này lần đầu được xác định tại Colombia vào tháng 1 năm 2021[71]. Những báo cáo sớm nhất cho thấy Pfizer có 76%[72] hiệu quả vô hiệu hóa Mu, và khoảng 90.4% hiệu quả sau 2 liều Moderna[73].
  • Biến thể Lambda (C.37) được xem là 1 VOI vào ngày 14 tháng 6 năm 2021 và có liên quan đến tốc độ lây truyền cao ở nhiều quốc gia. Lambda được đặc trưng bởi các đột biến trong protein gai, bao gồm G75V, T76I, del247 / 253, L452Q, F490S, D614G và T859N với ước tính làm tăng khả năng lây nhiễm và trốn thoát miễn dịch[74]. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng các vắc xin đang được sử dụng hiện tại sẽ vẫn bảo vệ chống lại Lambda và liệu pháp kháng thể đơn dòng sẽ vẫn có hiệu quả[75].
  • Delta-AY.1 (Delta với K417N) đang được ghi nhận như là ‘Delta Plus và ‘Delta +’. Thông tin cho rằng có ít nhất 2 nhánh Delta riêng biệt với K417N. Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy AY.1 dễ lây truyền hoặc né tránh miễn dịch hơn Biến thể Delta. Delta với K417N có thể được phát hiện bằng xét nghiệm xác định kiểu gen. Dữ liệu sinh học gợi ý là Delta với K417N (AY.1) không có khả năng cho thấy sự thay đổi kháng nguyên đáng kể so với biến thể Delta[76].

Ngoài ra, các biến thể đang được theo dõi (Variants Under Monitoring – VUMs) được WHO liệt kê là: “cựu” VOI Eta (B.1.525), Iota (B.1.526), Kappa (B.1.617.1) và các dòng Pango khác.

3. Kinh nghiệm quốc tế về điều trị Covid

Đại dịch Covid là thách thức lớn đối với nhân loại. Cho tới hiện nay, vẫn chưa có phương thuốc chữa trị nào cho căn bệnh này. Các nhà khoa học hiện đang tích cực nghiên cứu, thử nghiệm để tìm ra các phương thuốc điều trị hiệu quả. Cho tới nay, có 25 phương pháp điều trị Covid hiện đang được đề cập nhiều nhất. Một vài phương pháp đã có bằng chứng về tính hiệu quả, hầu hết vẫn đang ở giai đoạn đầu của nghiên cứu.

Các thuốc tiêu diệt vi rút

Remdesivir

FDA phê duyệt khẩn cấp

Remdesivir, một chất ức chế polymerase RNA, là một prodrug monophosphate chuyển hóa thành một chất tương tự triphosphate nucleoside C-adenosine hoạt động và cho thấy hoạt động chống lại RNA virus, chẳng hạn như Coronaviridae và Flaviviridae. Dạng triphosphate của remdesivir là chất nền cho các phức hợp RNA polymerase phụ thuộc RNA trong coronavirus và ngăn chặn tổng hợp RNA của virus[77].

Remdesivir ban đầu được thử nghiệm như một loại thuốc kháng virus chống lại Ebola và Viêm gan C, được thử nghiệm lần đầu để chữa trị Covid vào tháng 2-3/2020. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nó có thể ngăn chặn virus corona nhân lên trong các tế bào. Một thử nghiệm lâm sàng lớn sau đó đã cho thấy thuốc làm giảm thời gian[78] phục hồi của những bệnh nhân nhập viện vì Covid-19 từ 15 xuống còn 11[79] ngày.

Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 11, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo không sử dụng remdesivir. Dựa trên một thử nghiệm ngẫu nhiên toàn[80]cầu, họ kết luận vào tháng 2 rằng remdesivir có rất ít hoặc không có tác dụng đối với bệnh nhân nhập viện mắc Covid-19.

Vào ngày 12 tháng 4, Gilead tuyên bố sẽ tạm dừng thử nghiệm giai đoạn 3 của remdesivir ở những bệnh nhân Covid-19 có nguy cơ cao, không nhập viện. Đó là bởi vì Gilead không thấy cần thiết trong việc phát triển điều trị nhiều ngày.

Lực lượng đặc nhiệm quốc gia về bằng chứng lâm sàng COVID-19 – Úc: Sử dụng có điều kiện. Ở những bệnh nhân nhập viện mắc COVID-19 không cần thở máy (thở máy xâm lấn hoặc không xâm lấn hoặc oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO) remdesivir có thể làm giảm nguy cơ tử vong.

Nguyên do của khuyến cáo khác nhau: sử dụng các phương án khác nhau để phân tích dữ liệu và biến thể của đánh giá GRADE ‘Evidence to Decision’.

 

Molnupiravir

Tiềm năng

Molnupiravir (còn được gọi là MK-4482 và trước đây là EIDD-2801) là một loại thuốc kháng virus ban đầu được tạo ra để điều trị cúm.

Trong các nghiên cứu ban đầu ở tế bào phổi người và[81]trên động vật Molnupiravir đã tạo ra kết quả đầy hứa hẹn chống lại coronavirus[82]mới,[83]. Vào tháng 10 năm 2020, các công ty đã bắt đầu hai thử nghiệm Pha 2/3 để xem liệu nó có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và tốc độ phục hồi ở bệnh nhân.

Vào tháng 4, Merck và Ridgeback tuyên bố rằng họ sẽ chấm dứt thử nghiệm Molnupiravir ở những bệnh nhân nhập viện vì dữ liệu cho thấy nó không có tác dụng[84]gì. Nhưng vào tháng 10 năm 2021, họ tuyên bố rằng một thử nghiệm trên bệnh nhân ngoại trú có nguy cơ cao đã mang lại kết quả đầy hứa hẹn. Molnupiravir làm giảm một nửa nguy cơ nhập viện và tử vong.[85] Merck và Ridgeback vẫn chưa nộp đơn xin phép khẩn cấp cho Molnupiravir.

Favipiravir

Bằng chứng không nhất quán

Ban đầu được tạo ra để chống lại cúm, favipiravir ngăn chặn khả năng sao chép vật liệu di truyền của virus. Một số nghiên cứu nhỏ cho thấy thuốc này có thể loại bỏ coronavirus khỏi đường thở, dẫn đến việc một số quốc gia, bao gồm Nhật Bản, Kenya, Nga, Ả Rập Saudi và Thái Lan, phê duyệt favipiravir cho điều trị Covid-19.[86] Nhưng một đánh giá vào tháng 2 về các thử nghiệm favipiravir cho thấy nó chỉ có tác động không đáng kể đến tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân có triệu chứng nghiêm trọng[87]. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng không làm mù (open-labelled) cho thấy Favipiravir không mang lại hiệu quả hồi phục lâm sàng sớm hơn so với Arbidol ở ngày thứ 7 ở bệnh nhân mắc Covid mức độ trung bình và nặng, nhưng rút ngắn thời gian ho, sốt (1,7 ngày), tác dụng phụ không đáng kể[88]. Các thử nghiệm khác [89] vẫn đang được tiến hành để xem liệu thuốc có thể hữu ích như một phương pháp điều trị sớm cho những người được chẩn đoán mắc Covid-19 gần đây hay không.

 

PF-07321332

Bằng chứng không nhất quán

Pfizer đã phát triển một loại thuốc vào đầu những năm 2000 như một phương pháp điều trị tiềm năng cho SARS, gây ra bởi coronavirus SARS-CoV. Khi đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng nổ, họ đã cải thiện lại nó để chống lại SARS-CoV-2 có tính sinh học tương tự. Ngoài ra, họ đã sửa đổi thuốc từ thiết kế ban đầu để tiêm tĩnh mạch sang dạng thuốc viên. Khi cho chuột dùng thuốc qua đường uống, thuốc đã đạt đến nồng độ đủ cao trong cơ thể để ngăn chặn virus corona nhân lên bên trong các tế bào. PF-07321332, như thuốc hiện đã được biết đến, đã được thử nghiệm lâm sàng vào tháng 3 năm 2021, theo đó là thử nghiệm Pha 3 lớn hơn vào tháng 7. Kết quả của nghiên cứu dự kiến sẽ có vào tháng 10.

 

Ace-2 tái tổ hợp

Bằng chứng không nhất quán

Để xâm nhập vào tế bào, trước tiên virus corona phải mở khóa chúng bằng cách bám vào một protein của con người gọi là ACE-2. Các nhà khoa học đã tạo ra các protein ACE-2 nhân tạo có thể hoạt động như mồi nhử, thu hút coronavirus ra khỏi các tế bào dễ bị tổn thương. Protein ACE-2 tái tổ hợp đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn trong các thí nghiệm trên tế bào và động vật[90],[91]nhưng chưa ở người.

 

Ivermectin

Không tiềm năng

Trong nhiều thập kỷ, ivermectin đã được sử dụng như một loại thuốc mạnh để điều trị giun ký sinh. Các nghiên cứu trên tế bào cho rằng ivermectin cũng có thể tiêu diệt virus. Nhưng các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ trong các nghiên cứu trên động vật hoặc thử nghiệm trên người rằng nó có thể điều trị các bệnh do virus. Kết quả là, ivermectin không được chấp thuận sử dụng như một loại thuốc kháng vi-rút.

4/2020, các nhà nghiên cứu Úc báo cáo rằng thuốc đã chặn coronavirus trong môi trường nuôi cấy tế bào[92]. Nhưng họ đã sử dụng một liều lượng cao đến mức nó có thể có tác dụng phụ nguy hiểm ở người. F.D.A. và Cơ quan Dược phẩm Châu Âu đã đưa ra cảnh báo chống lại việc dùng thuốc cho thú cưng có chứa Ivermectin,[93][94][95].

Một số thử nghiệm lâm sàng nhỏ đã được thực hiện để thử nghiệm ivermectin chống lại Covid-19. Nhiều nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào ủng hộ việc sử dụng ivermectin để điều trị hoặc ngăn ngừa[96]nhiễm COVID-19,[97][98]. Một nghiên cứu cao cấp dường như cho thấy ivermectin có hiệu quả cao đã bị xóa khỏi một trang web in sẵn vì lo ngại về những sai sót nghiêm trọng trong nghiên cứu[99]. Phân tích tổng hợp của 15 thử nghiệm cho thấy ivermectin làm giảm nguy cơ tử vong[100].

Một số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn đang được tiến hành có thể cung cấp một bức tranh rõ ràng hơn.

 

Oleandrin

Không tiềm năng

Oleandrin là một hợp chất được sản xuất bởi cây bụi oleander. Tháng 5 năm ngoái, Viện Nghiên cứu Bệnh truyền nhiễm Quân đội Hoa Kỳ đã thử nghiệm oleandrin trên các tế bào bị nhiễm coronavirus nhưng không có kết luận. Các nhà nghiên cứu tại Phoenix Biotechnology, một công ty có trụ sở tại San-Antonio và Chi nhánh Y khoa Đại học Texas tại Galveston sau đó đã công bố một nghiên cứu cho thấy nó có hiệu quả trong nuôi cấy các tế bào thận khỉ bị nhiễm coronavirus. Nghiên cứu vẫn chưa được công bố trên tạp chí khoa học. Vẫn chưa có bằng chứng cho thấy oleandrin an toàn và hiệu quả đối với Covid-19 và FDA đã không chấp thuận nó để điều trị căn bệnh này.

 

Lopinavir và ritonavir

Không tiềm năng

Lopinavir, một chất ức chế protease aspartate của virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), đã được sử dụng trong điều trị nhiễm HIV trong một thời gian dài. Ritonavir có thể làm tăng nồng độ lopinavir bằng cách ức chế cytochrome P450. Lopinavir ức chế hoạt động của protease 3CLpro trong HIV thông[101]qua túi đối xứng C2, không có trong[102]coronavirus. Do đó, tác dụng ức chế của lopinavir đối với SARS-CoV-2 là không chắc chắn.

Vào đầu tháng 7, Tổ chức Y tế Thế giới đã đình chỉ các thử nghiệm trên các bệnh nhân Covid-19 nhập viện[103]. Hướng dẫn điều trị Covid của N.I.H. khuyến cáo không sử dụng lopinavir và ritonavir ở cả bệnh nhân nhập viện và không nhập viện.[104].

 

Hydroxychloroquine và chloroquine

Không tiềm năng

Hydroxychloroquine, được phát minh vào năm 1946, và sau đó được chấp thuận cho các bệnh như lupus và viêm khớp dạng thấp. Khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, một vài nghiên cứu nhỏ trên bệnh nhân vào đầu năm 2020 đã mang lại một số hy vọng rằng hydroxychloroquine có thể điều trị Covid-19.

Nhưng sau một năm hy vọng và nghiên cứu mạnh mẽ, sự đồng thuận khoa học đã xuất hiện rằng thuốc này không hữu ích cho Covid-19 và có thể gây ra tác dụng phụ có hại. Các thí nghiệm trên động vật như khỉ và chuột không tìm thấy bằng chứng cho thấy hydroxychloroquine đã ngăn chặn căn bệnh này[105]. Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy hydroxychloroquine không giúp những người mắc Covid-19 khỏe hơn hoặc ngăn chặn những người khỏe mạnh nhiễm vi rút corona[106]. Tổ chức Y tế Thế giới, Viện Y tế Quốc gia và Novartis đã tạm dừng các thử nghiệm điều trị Covid-19 bằng hydroxychloroquine và F.D.A. đã thu hồi phê duyệt khẩn cấp. F.D.A. hiện cảnh báo rằng thuốc có thể gây ra một loạt các tác dụng phụ nghiêm trọng trên tim và các cơ quan khác khi được sử dụng để điều trị Covid-19[107]. Vào ngày 2 tháng 3, một hội đồng chuyên gia tại Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo mạnh mẽ chống lại việc sử dụng hydroxychloroquine ở tất cả các bệnh nhân, nói thêm rằng thuốc không còn là ưu tiên nghiên cứu.[108]

 

Thuốc tác động lên hệ miễn dịch

 

Kháng thể đơn dòng

Sử dụng rộng rãi

Kháng thể đơn dòng là những thuốc có nguồn gốc từ những người đã khỏi Covid-19. Trong quá trình nhiễm bệnh, con người tạo ra nhiều kháng thể khác nhau có thể tấn công coronavirus. Các nhà nghiên cứu có thể sàng lọc qua việc thu thập các phân tử này và tìm ra những phân tử mạnh nhất.

Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng trên tế bào và động vật vào đầu năm 2020, kháng thể đơn dòng cho thấy hứa hẹn chống lại Covid-19[109]. Nhìn chung, các thử nghiệm đã cho thấy các kháng thể đơn dòng có hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn Covid-19 khi được tiêm sớm trong nhiễm trùng. Vào thời điểm bệnh nhân nhập viện vì Covid-19 nặng, bệnh đã tiến triển và việc ngăn chặn coronavirus có thể không giúp ích gì nhiều.

Nhưng để có được kháng thể đơn dòng cho bệnh nhân đủ sớm để thu được tác dụng lớn nhất là một thách thức. Họ thường phải được cung cấp bằng cách truyền dịch, có thể kéo dài hàng giờ. Một nhược điểm khác của kháng thể đơn dòng là chúng có thể mất hiệu quả đặc biệt đối với các biến thể mới. Các đột biến mà các biến thể đạt được cho phép chúng thoát khỏi sự kìm kẹp của các kháng thể được tạo ra ở những người bị nhiễm các dạng coronavirus trước đó. Các nhà nghiên cứu đang phát triển các kháng thể đơn dòng mới phù hợp với các biến thể này, cũng như các loại cocktail có thể vượt qua sức đề kháng của chúng.

 

Bamlanivimab và etesevimab

Vào ngày 9 tháng 11, F.D.A. đã cho phép sử dụng khẩn cấp bamlanivimab cho trường hợp nhiễm Covid-19 từ nhẹ đến trung bình[110]. Một nghiên cứu ban đầu cho thấy thuốc làm giảm nguy cơ người nhiễm bệnh phải nhập viện[111]. Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng nó có thể ngăn mọi người nhiễm Covid-19 ngay từ đầu. Công ty đã đưa bamlanivimab cho 965 người và nhân viên khỏe mạnh tại các viện dưỡng lão. Họ nhận thấy nó làm giảm 80% nguy cơ mắc Covid-19[112].

Nhưng một số biến thể coronavirus xuất hiện vào đầu năm 2021 đã chứng minh khả năng kháng thuốc, khiến F.D.A. thu hồi giấy phép cho bamlanivimab dùng đơn lẻ như một phương pháp điều trị Covid-19 vào ngày 19 tháng 4[113]. Thay vào đó, chính phủ cho phép Lilly bán dạng kết hợp của bamlanivimab và etesevimab. Họ giải thích nếu virus corona có thể tránh được một loại thuốc thì vẫn sẽ không chịu được loại còn lại. Vào tháng 3 năm 2021, Lilly đã báo cáo rằng sự kết hợp của bamlanivimab và etesevimab đã làm giảm 87% số ca nhập viện và tử vong liên quan đến Covid-19 trong một thử nghiệm trên 769 bệnh nhân có nguy cơ cao[114]. Các hướng dẫn điều trị Covid-19 của NIH hiện khuyến cáo bamlanivimab và etesevimab cho những bệnh nhân Covid-19 không nhập viện có nguy cơ cao các triệu chứng của họ trở nên tồi tệ hơn[115]. F.D.A. đã ủy quyền cho bamlanivimab và etesevimab ở tất cả các tiểu bang vào ngày 2 tháng 9. Và vào ngày 17 tháng 9, F.D.A. đã mở rộng ủy quyền của mình để cho phép sự kết hợp được áp dụng cho những bệnh nhân có nguy cơ cao và chưa được tiêm chủng đã phơi nhiễm với virus[116].

 

REGEN-COV

Thuốc này, trước đây được gọi là REGN-COV2, là một loại cocktail gồm hai kháng thể đơn dòng, được gọi là casirivimab và imdevimab, đều được sản xuất bởi Regeneron. Cân nhắc sử dụng casirivimab cùng với imdevimab ở bệnh nhân seronegative nhập viện với COVID-19 từ trung bình đến nguy kịch, bao gồm cả phụ nữ mang thai hoặc cho con bú.

Regneron đã giành được giấy phép sử dụng khẩn cấp cho REGEN-COV vào tháng 11. F.D.A. cho phép sử dụng cho những bệnh nhân có trường hợp nhẹ đến trung bình có nguy cơ cao tiến triển thành Covid-19 nghiêm trọng[117] và để phòng ngừa Covid-19 ởnhững người tiếp xúc với virus[118]. Viện Y tế Quốc gia khuyến cáo REGEN-COV là một trong ba kết hợp kháng thể đơn dòng sử dụng trong điều trị bệnh nhân không nhập viện.[119] Vào ngày 20 tháng 7, REGEN-COV đã nhận được sự chấp thuận đầy đủ đầu tiên để sử dụng cho bệnh nhân mắc Covid-19 từ nhẹ đến trung bình tại Nhật Bản.[120]

REGEN-COV cũng có thể ngăn ngừa không bị bệnh ngay từ đầu. Regeneron đã cung cấp kháng thể đơn dòng của họ cho những người tiếp xúc với coronavirus trong gia đình của họ. Họ so sánh kết quả của các tình nguyện viên với những người nhận được giả dược thay thế. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc điều trị làm giảm 81% nguy cơ nhiễm trùng triệu chứng[121]. Kết quả từ một nghiên cứu công bố vào ngày 30 tháng 9 năm 2021 cho thấy thuốc giúp giảm nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân Covid-19 nhập viện không cần oxy bổ sung[122]. Vào ngày 12 tháng 4, kết quả thử nghiệm Pha 3 của Regeneron cho thấy REGEN-COV đã giảm đáng kể nguy cơ nhập viện và tử vong ở những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc Covid-19 và rút ngắn thời gian có triệu chứng ở mức độ lớn[123]. Một nghiên cứu quy mô lớn khác cho thấy thuốc giúp giảm tử vong ở những bệnh nhân có hệ thống miễn dịch không thể chống lại căn bệnh này[124]. Các nghiên cứu về REGEN-COV vẫn đang được tiến hành và dự kiến sẽ mang lại nhiều kết quả hơn.

 

Sotrovimab

Được phát triển bởi GSK và Vir Biotechnology, loại thuốc kháng thể này được thiết kế để nán lại trong phổi để có thể tấn công coronavirus khi nó xâm nhập vào cơ thể. Trong một thử nghiệm pha 3 của thuốc, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sotrovimab làm giảm nguy [125][126]nhập viện hoặc tử[127]vong. Ủy ban dược liệu con người của Cơ quan Y tế châu Âu kết luận rằng sotrovimab có thể được sử dụng ở các bệnh nhân Covid-19 có nguy cơ cao vào ngày 21/5, mở đường cho các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu phê duyệt thuốc trong những tháng tới.[128] F.D.A. đã cho phép sử dụng cho Covid-19 từ nhẹ đến trung bình vào ngày 26 tháng 5[129]. Các hướng dẫn điều trị Covid-19 của NIH hiện khuyến cáo thuốc cho bệnh nhân không nhập viện có nguy cơ cao trở nên tồi tệ hơn[130].

 

AZD7442

AstraZeneca đã phân lập hai kháng thể cho thấy phản ứng mạnh mẽ với coronavirus. Sau đó, họ đã biến đổi hóa học từng phân tử để nó tồn tại lâu hơn trong cơ thể bệnh nhân, cung cấp sự bảo vệ nhiều hơn chống lại Covid-19. Công ty đã kết hợp hai kháng thể thành một cocktail/hỗn hợp, được gọi là AZD7442, có thể được tiêm vào cơ bắp như một loại vắc-xin.

Trong một thử nghiệm trên 5.000 tình nguyện viên, AstraZeneca phát hiện ra rằng AZD7442 làm giảm 77% cơ hội mắc Covid-19[131]. Công ty đã công bố kết quả thử nghiệm vào ngày 20 tháng 8 năm 2021, bổ sung rằng loại thuốc này có khả năng bảo vệ mọi người trong một năm.[132] Độ bền đó sẽ làm cho nó đặc biệt hữu ích cho những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, những người không nhận được nhiều sự bảo vệ khỏi vắc-xin.

 

Huyết tương

Bằng chứng không nhất quán

Đầu đại dịch, một số nhà nghiên cứu đã khám phá ý tưởng điều trị cho bệnh nhân bằng huyết tương được lọc từ máu của những người đã hồi phục sau khi mắc Covid-19. Huyết tương chứa đầy kháng thể chống lại coronavirus về lý thuyết có thể ngăn chặn sự tiến triển của Covid-19. Nhưng sau một năm nghiên cứu, huyết tương hồi phục đã không đáp ứng được những hy vọng đó, ít nhất là đối với những người bệnh Covid-19 phải nhập viện[133].

Các thử nghiệm đã không tìm thấy bằng chứng cho thấy huyết tương hồi phục đã giúp những người đã nhập viện và[134]bị bệnh[135]nặng. Vào tháng 1, các nhà nghiên cứu Anh đã tạm dừng một thử nghiệm 10.000 người vì rõ ràng huyết tương hồi phục không giúp bệnh nhân sống sót[136]. Vào tháng 3, Viện Y tế Quốc gia đã tạm dừng một nghiên cứu của riêng họ trên những bệnh nhân cấp cứu với các triệu chứng từ nhẹ đến trung bình.[137]

Ngay cả khi huyết tương hồi phục có thể không có tác dụng đối với những người bị bệnh phải nhập viện, vẫn có khả năng nó có thể giúp người ở giai đoạn đầu nhiễm Covid-19. Nhưng các thử nghiệm đã thất bại trong việc đưa ra bằng chứng mạnh mẽ về tác dụng như vậy. Vào ngày 6 tháng 1, thử nghiệm lâm sàng liên quan đến 160 người cao tuổi bị nhiễm bệnh gần đấy ở Argentina cho thấy huyết tương hồi phục có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng của mọi[138]người. Một nghiên cứu khác vào tháng 8/2021 cho thấy điều trị Covid bằng huyết tương ở giai đoạn sớm có thể giúp giảm tử vong mà không làm tăng phản ứng có hại[139]. Nhưng một nghiên cứu lớn hơn, được công bố vào tháng 9, trên hơn 1800 bệnh nhân, đã không phát hiện ra rằng huyết tương hồi phục làm giảm nguy cơ bệnh nhân nhập viện sẽ phải đặt nội khí quản hoặc nguy cơ tử vong vì Covid-19[140]. Các nhà nghiên cứu nhận thấy, những bệnh nhân nhận được huyết tương từ một nhà cung cấp máu có kết quả tồi tệ hơn so với những người có tiêu chuẩn chăm sóc Covid-19.

 

Interferons

Bằng chứng không nhất quán

Interferon là phân tử mà tế bào của chúng ta sản sinh tự nhiên để đáp ứng với virus. Chúng có tác động đặc biệt đến hệ thống miễn dịch, kích thích nó để tấn công những kẻ xâm lược, đồng thời kiềm chế nó để tránh làm hỏng các mô của cơ thể. Tiêm interferon tổng hợp hiện là một phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho một số rối loạn miễn dịch.

Các nghiên cứu ban đầu, bao gồm các thí nghiệm trên tế bào và chuột, đã mang lại kết quả đáng khích lệ dẫn đến[141]các thử nghiệm lâm sàng [142]. Vào ngày 20 tháng 7, công ty dược phẩm Synairgen của Anh tuyên bố rằng một dạng interferon khí dung có tên SNG001 làm giảm nguy cơ mắc Covid-19 nghiêm trọng ở bệnh nhân bị nhiễm bệnh trong một thử nghiệm lâm sàng nhỏ[143]. Sau đó, họ đã công bố chi tiết của nghiên cứu trên một tạp chí y khoa, và vào tháng 2, SNG001 đã được đưa cho những người tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng lớn, do Viện Y tế Quốc gia điều hành.[144] Nếu nó cho thấy kết quả hứa hẹn trong nhóm tình nguyện viên đầu tiên thì thử nghiệm sẽ được mở rộng thành thử nghiệm Pha 3.

Tháng 8 năm ngoái, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia đã tiến hành thử nghiệm Giai đoạn III trên Rebif – loại thuốc được sử dụng cho bệnh đa xơ cứng – kết hợp với remdesivir kháng virus. Thử nghiệm đã hoàn tất, nhưng kết quả vẫn chưa được công bố [145].

 

Kiếm chế phản ứng miễn dịch

Dexamethasone

Sử dụng rộng rãi

Khi các bác sĩ bắt đầu điều trị cho bệnh nhân Covid-19 vào đầu năm 2020, họ quan sát thấy rằng một số bệnh nhân bị viêm trong phổi bị tàn phá đến mức có thể dẫn đến tử vong. Các nhà nghiên cứu Anh đã bắt đầu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên các loại thuốc chống viêm để xem liệu trong số chúng có thuốc có thể cứu sống nhiều người hay không. Trong đó, họ đã thử nghiệm một loại thuốc rẻ, an toàn là dexamethasone. Vào tháng 6 năm 2020, họ đã báo cáo rằng dexamethasone làm giảm tử vong do Covid-19[146]. Một nghiên cứu trên hơn 6.000 người cho thấy dexamethasone làm giảm 1/3 số ca tử vong ở bệnh nhân dùng máy thở và 1/5 ở bệnh nhân dùng oxy.[147]

Vào tháng 9, các nhà nghiên cứu đã xem xét kết quả thử nghiệm trên dexamethasone, cùng với hai steroid khác, hydrocortisone và methylprednisolone. Nhìn chung, steroid có liên quan đến việc giảm 1/3 số ca tử vong ở[148] bệnh nhân Covid-19.[149]

 

Budesonide

Ở những bệnh nhân được xác nhận mắc COVID-19 không cần oxy nhưng sau đó phải nhập viện do tiến triển bệnh, budesonide có thể làm giảm nhu cầu oxy bổ sung nếu dùng trong vòng 14 ngày kể từ ngày khởi phát các triệu chứng.

Kết quả chủ yếu dựa trên thử nghiệm[150]PRINCIPLE, trong đó người lớn được điều trị bằng budesonide hít (bằng ống hít có tính năng thở) 800 μg hai lần mỗi ngày trong tối đa 14 ngày. Dựa trên các tiêu chí bao gồm cho thử nghiệm này, các yếu tố nguy cơ cho sự tiến triển của bệnh bao gồm tuổi ≥ 65 tuổi hoặc ≥ 50 tuổi với một hoặc nhiều bệnh đi kèm được chọn. Khoảng 11% và 1% người tham gia đã nhận được một hoặc hai liều vắc-xin khi đăng ký, tuy nhiên kết quả không được báo cáo riêng cho dân số này.

 

Chất ức chế cytokine

Bằng chứng không nhất quán

Chất ức chế Interleukin-6

Interleukin-6, một loại protein được tiết ra bởi các tế bào miễn dịch, có thể gây viêm. Một số loại thuốc ngăn chặn interleukin-6 đã được chứng minh là có hiệu quả trong những năm gần đây để điều trị viêm khớp và các rối loạn miễn dịch khác. Tổ chức Y tế Thế giới đã xem xét các thử nghiệm đối với thuốc chẹn interleukin-6 cho những người mắc Covid-19 và kết luận rằng thuốc có thể giảm khả năng bệnh nhân sẽ cần phải dùng máy thở và giảm tỷ lệ tử vong. Vào ngày 6 tháng 7 năm 2021, W.H.O. đã khuyến cáo hai trong số các loại thuốc này, sarilumab và tocilizumab, cho bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng hoặc nguy kịch[151].

Điều trị bằng Tocilizumab (bắt đầu trong 10 ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng) làm giảm tỷ lệ cấp cứu ICU và tử vong ở bệnh nhân Covid điều trị tại bệnh viện[152]. Tỷ lệ tử vong giảm hơn nữa khi phối hợp điều trị với corticosteroids [153] và điều trị sớm[154]. Tocilizumab cũng làm giảm tỷ lệ bệnh nhân Covid phải thở máy[155].

Baricitinib

Baricitinib là một loại thuốc khác dùng cho viêm khớp. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn, các nhà nghiên cứu đã so sánh cách bệnh nhân nhập viện có sự kết hợp giữa baricitinib và thuốc kháng virus remdesivir so với remdesivir dùng đơn lẻ[156]. Họ phát hiện ra rằng việc thêm baricitinib đã giảm thời gian cần để xuất viện cho bệnh nhân khoảng một ngày. Nhưng các nhà nghiên cứu đã không phát hiện ra rằng sự kết hợp này làm giảm tỷ lệ người chết. Những kết quả đó không tốt như đối với dexamethasone – một steroid.

Vào ngày 8 tháng 4, kết quả từ một nghiên cứu quy mô lớn về baricitinib ở bệnh nhân nhập viện cho thấy thuốc không tạo ra sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê đối với nguy cơ thở máy hoặc tử vong[157]. Một thử nghiệm của NIH so sánh baricitinib và dexamethasone đối đầu khi kết hợp với remdesivir ngừng đăng ký cho người tham gia vì kết quả sơ bộ cho thấy không có loại thuốc nào tốt hơn đáng kể so với loại thuốc khác[158].

Fluvoxamine

Vào tháng 11 năm 2020, một nhóm các bác sĩ đã công bố một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nhỏ về tác dụng của fluvoxamine cho những người ngay sau khi họ được chẩn đoán mắc Covid-19[159]. Trong khi 8,3% bệnh nhân dùng giả dược phải nhập viện, không ai trong số những người dùng thuốc này bị tiến triển xấu đi. Trong một thử nghiệm lâm sàng lớn hơn ở Brazil, các nhà nghiên cứu đã đưa fluvoxamine cho 738 bệnh nhân Covid-19 được lựa chọn ngẫu nhiên, trong khi 733 người khác nhận được giả dược. Vào tháng 8 năm 2021, họ đã thực hiện một phân tích dữ liệu tạm thời và thấy rằng thuốc làm giảm 30% nguy cơ nhập viện.[160]

Lenzilumab

Vào tháng 5 năm 2021, các nhà nghiên cứu đã công bố kết quả thử nghiệm pha 3 của lenzilumab, trong đó 261 người dùng thuốc trong khi 259 người dùng giả dược. Tất cả các đối tượng đều có nồng độ oxy thấp nhưng chưa phải dùng máy thở. Nghiên cứu chưa được công bố trên một tạp chí khoa học cho thấy thuốc làm giảm khả năng bệnh nhân dưới 85 tuổi chưa phát triển một cơn bão cytokine đã phải thở máy hoặc chết. Humanigen, công ty sản xuất lenzilumab, đã nộp đơn xin phép sử dụng khẩn cấp. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2021, họ tuyên bố rằng F.D.A. đã từ chối yêu cầu của mình.

EXO-CD24

Các nhà nghiên cứu ở Israel đã thực hiện một nghiên cứu thí điểm nhỏ về một loại thuốc gọi là EXO-CD24 để xem liệu nó có thể giảm bớt cơn bão cytokine hay không. Vào tháng 2 năm 2021, họ thông báo rằng 31 trong số 35 bệnh nhân nhập viện đã được xuất viện sau ba đến năm ngày điều trị bằng thuốc [161]. Nhưng không thể biết liệu thuốc có giúp họ hay không, bởi vì thử nghiệm không lớn, không rõ ràng hoặc bị kiểm soát giả dược. Những kết quả sơ bộ này cũng không được công bố trên một tạp chí hoặc được đăng trực tuyến.

Leronlimab

Các nghiên cứu nhỏ mang lại kết quả đáng khích lệ, sau đó được thực hiện các thử nghiệm lâm sàng lớn hơn[162]. Vào tháng 3 năm 2021, CytoDyn đã miêu tả kết quả của các thử nghiệm là tích cực[163]. Nhưng vào ngày 17 tháng 5, F.D.A. đã đẩy lùi tuyên bố của CytoDyn.

 

Tế bào gốc

Bằng chứng không nhất quán

Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu đã cố gắng sử dụng tế bào gốc như một phương pháp điều trị cho các cơn bão cytokine, và bây giờ hàng chục thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để xem liệu chúng có thể giúp bệnh nhân mắc Covid-19 hay không. Nhưng những phương pháp điều trị tế bào gốc này đã không hoạt động tốt trong quá khứ và vẫn chưa rõ liệu chúng có hiệu quả chống lại coronavirus hay không. Hướng dẫn điều trị Covid-19 của N.I.H khuyến cáo chống lại việc sử dụng tế bào gốc trung mô cho Covid-19[164], ngoại trừ trong một thử nghiệm lâm sàng, trong khi FDA đã đưa ra cảnh báo rằng các phương pháp điều trị tế bào gốc chưa được chứng minh có khả năng gây hại cho bệnh nhân[165].

 

Colchicine

Bằng chứng không nhất quán

Sau một loạt các thử nghiệm nhỏ, các nhà nghiên cứu ở Canada đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát trên 4.500 người, điều trị cho họ bằng colchicine ngay sau khi chẩn đoán mắc Covid-19.[166] Các nhà nghiên cứu đã đăng nghiên cứu trực tuyến vào ngày 27 tháng 1 trước khi công bố trên một tạp chí y khoa. Kết quả cho thấy colchicine có thể giảm nhẹ sự nhập viện của bệnh nhân, nhưng các chuyên gia bên ngoài đã đặt câu hỏi liệu kết quả đầu ra có khi chỉ là ngẫu nhiên. Tháng 11 năm ngoái, các nhà nghiên cứu Anh đã đưa ra một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn về colchicine trên bệnh nhân nhập viện vì Covid-19. Vào ngày 5 tháng 3, họ đã dừng thử nghiệm vì những người dùng colchicine cũng có khả năng tử vong như những người dùng giả dược.

Tuy nhiên, nghiên cứu về colchicine vẫn đang tiếp tục. Vào tháng 3 năm 2021, một thử nghiệm quy mô lớn khác trên những người mắc Covid-19 sớm đã được đưa ra tại Vương quốc Anh.

 

Hệ thống lọc máu

Không tiềm năng

Vào năm 2020, F.D.A. đã cấp phép sử dụng khẩn cấp cho một số thiết bị lọc cytokine từ máu trong nỗ lực làm mát cơn bão cytokine[167]. Nhưng kể từ đó, không có chứng minh rằng chúng an toàn và hiệu quả đối với Covid-19 trong các thử nghiệm ngẫu nhiên, có kiểm soát. Ví dụ, vào tháng 5 năm 2021, các nhà nghiên cứu đã công bố một thử nghiệm không tìm thấy lợi ích trong việc sử dụng một thiết bị được ủy quyền có tên Cytosorb. trên bệnh nhân nhập viện.[168] Trên thực tế, nhiều người được điều trị đã chết hơn những người không điều trị.

 

Azithromycin

Không tiềm năng

Azithromycin là một loại kháng sinh thường được sử dụng để chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn. Nhưng các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng thuốc cũng có thể làm giảm viêm. Tính năng đó làm cho azithromycin thu hút các bác sĩ đang tìm kiếm một phương pháp điều trị tiềm năng cho Covid-19 đã được biết là an toàn. Làm cho thuốc thậm chí còn hấp dẫn hơn là bằng chứng sơ bộ cho thấy nó có thể ngăn chặn coronavirus trong ống nghiệm. Nhưng vào tháng 12, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn không tìm thấy lợi ích của azithromycin ở những bệnh nhân nhập viện vì Covid-19[169].

 

Các thuốc điều trị khác

Nằm sấp

Sử dụng rộng rãi

Các nhân viên y tế từ lâu đã biết rằng hành động đơn giản là lật bệnh nhân bệnh viện đang suy hô hấp nặng lên bụng có thể mở phổi của họ[170]. Hoạt động này đã trở nên phổ biến tại các bệnh viện trên khắp thế giới kể từ khi bắt đầu đại dịch. Nó có thể giúp một số người tránh được sự cần thiết phải có máy thở hoàn toàn. Lợi ích của phương pháp điều trị tiếp tục được thử nghiệm trong một loạt các thử nghiệm lâm sàng đặc biệt xem xét những người mắc Covid-19.

 

Máy thở và các thiết bị hỗ trợ hô hấp khác

Sử dụng rộng rãi

Các thiết bị giúp mọi người thở là một công cụ thiết yếu trong cuộc chiến chống lại các bệnh hô hấp chết người. Một số bệnh nhân trở nên tốt hơn nếu họ nhận được một nguồn cung cấp oxy qua mũi hoặc thông qua mặt nạ kết nối với máy oxy. Bệnh nhân suy hô hấp nặng có thể cần phải thở máy cho họ cho đến khi phổi của họ lành lại. Các bác sĩ được phân chia về thời gian điều trị cho bệnh nhân có oxy không xâm lấn trước khi quyết định có cần máy thở hay không. Không phải tất cả bệnh nhân Covid-19 đều phải thở máy đều sống sót, nhưng các thiết bị này được cho là cứu sống trong nhiều trường hợp.

 

Chống đông Anticoagulants

Bằng chứng không nhất quán

Thuốc chống đông máu và các loại thuốc chống đông máu khác thường được dùng cho bệnh nhân mắc một loạt các bệnh làm tăng nguy cơ phát triển cục máu đông. Năm 2020, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng coronavirus có thể xâm nhập vào niêm mạc mạch máu và hình thành cục máu đông, có khả năng gây hại nghiêm trọng. Phát hiện đó đã dẫn đến một số thử nghiệm để xem liệu việc cho bệnh nhân Covid-19 dùng liều thuốc chống đông máu cao hơn, hoặc các tác nhân làm loãng máu khác, có cải thiện tỷ lệ phục hồi của họ hay không.

Cho đến nay, kết quả đã được trộn lẫn. Hai nghiên cứu lớn được báo cáo vào tháng 3 năm 2021 – một trên 600 bệnh nhân ở Iran[171]và một trên hơn 1.000 bệnh nhân trên toàn cầu – đã không phát hiện ra rằng tăng[172] liều thuốc chống đông máu cải thiện kết quả của Covid-19 ở những bệnh nhân nhập viện ICU. Và trong một nghiên cứu của Brazil, được công bố vào tháng 6 năm 2021, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thuốc chống đông rivaroxaban không cải thiện kết quả lâm sàng và thậm chí dẫn đến chảy máu nhiều hơn[173]. Mặt khác, ba thử nghiệm lâm sàng lớn đã tìm thấy bằng chứng đầy hứa hẹn rằng chất làm loãng máu làm giảm khả năng bệnh nhân bị bệnh vừa phải nhập viện vì COVID-19 cần thông khí[174]. Nhiều thử nghiệm vẫn đang được tiến hành, bao gồm nhiều thử nghiệm trên aspirin, được biết hoạt động như một chất làm loãng máu. Nhưng vào tháng 6 năm 2021, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn cho thấy aspirin không có tác động đáng kể đến tỷ lệ tử vong của bệnh nhân[175]. Ở những bệnh nhân bị bệnh, thuốc làm vỡ cục máu đông đang được thử nghiệm với hy vọng giúp chống lại suy hô hấp.

 

Bổ sung vitamin và khoáng chất

Bằng chứng không nhất quán

Cơ thể chúng ta cần vitamin và khoáng chất để hoạt động bình thường. Một số nhà nghiên cứu đang điều tra xem liệu các chất bổ sung có thể giúp chống lại Covid-19 hay không, nhưng chưa có bằng chứng mạnh mẽ nào cho thấy chúng ngăn ngừa nhiễm trùng hoặc tăng tốc độ phục hồi từ chúng.

Một số thử nghiệm lâm sàng đã không tìm thấy lợi ích cho bệnh nhân Covid-19 từ Vitamin D[176]. Nhưng một số khác vẫn đang được tiến hành. Tuy nhiên, hướng dẫn điều trị của N.I.H. nói rằng không có đủ bằng chứng để khuyến nghị Vitamin D chống lại căn bệnh này[177].

Vào tháng 2, các nhà nghiên cứu tại Phòng khám Cleveland đã công bố một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không tìm thấy lợi ích từ kẽm[178]. Thử nghiệm tương tự cũng không tìm thấy bất kỳ sự giúp đỡ nào từ Vitamin C.

 

Tài liệu tham khảo

[1] WHO Coronavirus (COVID-19) Dashboard. https://covid19.who.int/

[2] Simona Iftimie và cộng sự (2021). First and second waves of coronavirus disease-19: A comparative study in hospitalized patients in Reus, Spain. PLOS ONE https://doi.org/10.1371/journal.pone.0248029

[3] Hye Seong và cộng sự (2021). Comparison of the second and third waves of the COVID-19 pandemic in South Korea: Importance of early public health intervention. International Journal of Infectious Diseases https://doi.org/10.1016/j.ijid.2021.02.004

[4] https://www.thefirstnews.com/article/fourth-wave-of-covid-19-epidemic-is-starting–pm-office-head-24256

[5] https://news.un.org/en/story/2021/07/1095882

[6] https://ourworldindata.org

[7] https://coronavirus.jhu.edu/data/mortality

[8] https://ourworldindata.org/covid-deaths?country=IND~USA~VNM~IDN#daily-confirmed-deaths-per-million-people

[9] https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/science/science-briefs/sars-cov-2-transmission.html

[10] https://academic.oup.com/cid/article/73/3/e754/6131730

[11] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33249484

[12] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32615199/

[13] https://academic.oup.com/ije/advance-article/doi/10.1093/ije/dyab145/6366466

[14] https://science.sciencemag.org/content/early/2021/05/24/science.abi5273

[15] https://academic.oup.com/cid/advance-article/doi/10.1093/cid/ciab403/6370557

[16] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.15.21260561v1.full.pdf

[17] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-3012

[18] https://www.nature.com/articles/s41598-021-92400-y

[19] https://www.thelancet.com/journals/lanres/article/PIIS2213-2600(20)30354-4/fulltext

[20] https://www.who.int/publications/i/item/criteria-for-releasing-covid-19-patients-from-isolation

[21] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008#r122-M205008

[22] https://www.science.org/doi/full/10.1126/science.abi5273

[23] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0048969721025547

[24] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[25] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[26] https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/jmv.26970

[27] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[28] https://www.health.gov.au/news/australian-health-protection-principal-committee-ahppc-coronavirus-covid-19-statements-on-14-may-2020

[29] https://bmcinfectdis.biomedcentral.com/articles/10.1186/s12879-021-05950-x

[30] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008

[31] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008

[32] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7185944/

[33] https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2774102

[34] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0240205

[35] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33749225/

[36] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0240205

[37] https://www.nccmt.ca/covid-19/covid-19-rapid-evidence-service/19

[38] https://www.science.org/doi/full/10.1126/science.abg3055

[39] https://www.who.int/publications/m/item/weekly-epidemiological-update-on-covid-19—29-june-2021

[40] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.03.21258302v1

[41] https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2783851

[42] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.09.21260271v1.full.pdf

[43] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.03.03.21252706v1

[44] https://www.nature.com/articles/s41586-021-03402-9

[45] https://www.who.int/publications/m/item/weekly-epidemiological-update-on-covid-19—29-june-2021

[46] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.03.21258302v1

[47] https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2021.26.24.2100509

[48] https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/1018547/Technical_Briefing_23_21_09_16.pdf

[49] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8375250/

[50] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.31.21261387v1

[51] https://spiral.imperial.ac.uk/bitstream/10044/1/90800/2/react1_r13_final_preprint_final.pdf

[52] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.12.21261991v1

[53] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1473309921002905

[54] https://www.bmj.com/content/373/bmj.n1412

[55] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.02.16.21251535v1

[56] https://europepmc.org/article/ppr/ppr294748

[57] https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2021.26.16.2100348

[58] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.04.13.21255281v1

[59] https://www.thelancet.com/journals/laninf/article/PIIS1473-3099(21)00475-8/fulltext

[60] https://europepmc.org/article/ppr/ppr356279

[61] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.02.24.21252372v1

[62] https://gvn.org/covid-19/delta-b-1-617-2/

[63] https://covid.joinzoe.com/

[64] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.10.06.21264467v1

[65] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.23.21259327v1.full.pdf

[66] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.23.21264048v1

[67] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.10.21260232v1

[68] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.06.05.447177v1

[69] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.10.21260232v1

[70] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.26.21262699v1

[71] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.09.06.459055v1

[72] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.23.21264014v1

[73] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.29.21264199v1

[74] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.28.21259673v1

[75] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.07.02.450959v1

[76] https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/1012644/Technical_Briefing_21.pdf

[77] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28124907/

[78] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2007764

[79] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2769871

[80] https://www.nejm.org/doi/10.1056/NEJMoa2023184

[81] https://www.nature.com/articles/s41586-021-03312-w

[82] https://www.nature.com/articles/s41564-020-00835-2

[83] https://www.science.org/doi/10.1126/scitranslmed.abb5883

[84] https://www.businesswire.com/news/home/20210415005258/en/Merck-and-Ridgeback-Biotherapeutics-Provide-Update-on-Progress-of-Clinical-Development-Program-for-Molnupiravir-an-Investigational-Oral-Therapeutic-for-the-Treatment-of-Mild-to-Moderate-COVID-19

[85] https://www.nytimes.com/live/2021/09/30/world/covid-delta-variant-vaccines#merck-antiviral-pill-covid

[86] https://www.ijidonline.com/article/S1201-9712(20)32273-6/fulltext

[87] https://www.reuters.com/article/us-health-coronavirus-fujifilm-avigan/fujifilms-avigan-shows-no-significant-benefit-on-covid-19-mortality-study-idUSKBN2AI0SK

[88] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8443786/

[89] https://www.businesswire.com/news/home/20210128005170/en/Appili-Therapeutics-Provides-Enrollment-Update-for-Its-Phase-3-PRESECO-Trial-Evaluating-the-Oral-Antiviral-Favipiravir-as-an-Early-Treatment-in-COVID-19

[90] https://www.cell.com/cell/fulltext/S0092-8674(20)30399-8

[91] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.03.12.435191v2

[92] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0166354220302011

[93] https://www.fda.gov/animal-veterinary/product-safety-information/fda-letter-stakeholders-do-not-use-ivermectin-intended-animals-treatment-covid-19-humans

[94] https://www.fda.gov/consumers/consumer-updates/why-you-should-not-use-ivermectin-treat-or-prevent-covid-19

[95] https://www.thepharmaletter.com/article/ema-says-ivermectin-should-not-be-used-for-covid-19

[96] https://www.cochrane.org/CD015017/INFECTN_ivermectin-preventing-and-treating-covid-19

[97] https://academic.oup.com/qjmed/advance-article/doi/10.1093/qjmed/hcab247/6375958

[98] https://www.nature.com/articles/s41591-021-01535-y

[99] https://www.nature.com/articles/d41586-021-02081-w

[100] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34145166/

[101] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32127666/

[102] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/31924756/

[103] https://www.who.int/news/item/04-07-2020-who-discontinues-hydroxychloroquine-and-lopinavir-ritonavir-treatment-arms-for-covid-19

[104] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/therapies/antiviral-therapy/lopinavir-ritonavir-and-other-hiv-protease-inhibitors/

[105] https://www.nature.com/articles/s41467-020-17907-w

[106] https://www.recoverytrial.net/news/statement-from-the-chief-investigators-of-the-randomised-evaluation-of-covid-19-therapy-recovery-trial-on-hydroxychloroquine-5-june-2020-no-clinical-benefit-from-use-of-hydroxychloroquine-in-hospitalised-patients-with-covid-19

[107] https://www.fda.gov/drugs/drug-safety-and-availability/fda-cautions-against-use-hydroxychloroquine-or-chloroquine-covid-19-outside-hospital-setting-or

[108] https://www.bmj.com/content/372/bmj.n526

[109] https://www.nytimes.com/2020/10/12/health/coronavirus-monoclonal-antibodies-trump.html

[110] https://www.nytimes.com/2020/11/09/health/covid-antibody-treatment-eli-lilly.html

[111] https://www.nytimes.com/2020/09/16/health/coronavirus-drug-eli-lilly.htmlhttps://www.nytimes.com/2020/09/16/health/coronavirus-drug-eli-lilly.html

[112] https://www.nytimes.com/2021/01/21/health/coronavirus-eli-lilly.html

[113] https://www.pharmaceutical-technology.com/news/fda-revokes-eua-bamlanivimab/

[114] https://www.abcellera.com/news/2021-03-10-bamlanivimab-together-with-etesevimab-reduced-hospitalizations-and-prevented-death-in-phase-3-trial-for-early-covid-19

[115] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/therapies/anti-sars-cov-2-antibody-products/anti-sars-cov-2-monoclonal-antibodies/

[116] https://www.fiercepharma.com/pharma/lilly-s-covid-19-antibody-combo-cleared-for-nationwide-use-as-feds-say-it-can-tackle-delta

[117] https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/coronavirus-covid-19-update-fda-authorizes-monoclonal-antibodies-treatment-covid-19

[118] https://www.fiercepharma.com/pharma/fda-expands-label-for-regeneron-s-versatile-covid-19-antibody-now-a-preventative-role

[119] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/anti-sars-cov-2-antibody-products/anti-sars-cov-2-monoclonal-antibodies/

[120] https://www.prnewswire.com/news-releases/japan-becomes-first-country-to-approve-regeneron-antibody-cocktail-casirivimab-and-imdevimab-for-the-treatment-of-mild-to-moderate-covid-19-301336962.html

[121] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2109682?query=featured_home

[122] https://www.prnewswire.com/news-releases/new-regen-cov-casirivimab-and-imdevimab-data-show-supportive-results-in-patients-hospitalized-with-covid-19-301388370.html

[123] https://www.roche.com/media/releases/med-cor-2021-04-12.htm

[124] https://www.reuters.com/business/healthcare-pharmaceuticals/regeneron-covid-19-therapy-cuts-deaths-among-hospitalised-patients-who-lack-2021-06-16/

[125] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.05.27.21257096v1

[126] https://www.globenewswire.com/news-release/2021/06/21/2250117/0/en/GSK-and-Vir-Biotechnology-Announce-Continuing-Progress-of-the-COMET-Clinical-Development-Program-for-Sotrovimab.html

[127] https://www.bmj.com/content/374/bmj.n2231

[128] https://www.gsk.com/en-gb/media/press-releases/ema-issues-positive-scientific-opinion-on-gsk-and-vir-biotechnology-s-sotrovimab-for-the-early-treatment-of-covid-19/

[129] https://www.fiercepharma.com/pharma/gsk-vir-snag-fda-eua-for-new-covid-19-antibody-drug-but-how-will-they-sell-it

[130] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/therapies/statement-on-anti-sars-cov-2-monoclonal-antibodies-eua/

[131] https://www.nytimes.com/live/2021/08/20/world/covid-delta-variant-vaccine#astrazenecas-antibody-drug-could-protect-people-with-weakened-immune-systems-a-study-shows

[132] https://www.astrazeneca.com/media-centre/press-releases/2021/azd7442-prophylaxis-trial-met-primary-endpoint.html

[133] https://www.nytimes.com/2021/04/17/health/covid-convalescent-plasma.html?searchResultPosition=3

[134] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2031304

[135] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2784914

[136] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)00897-7/fulltext

[137] https://www.nih.gov/news-events/news-releases/nih-halts-trial-covid-19-convalescent-plasma-emergency-department-patients-mild-symptoms

[138] https://www.nytimes.com/2021/01/06/health/convalescent-plasma-covid.html

[139] mdpi.com/2075-4418/11/9/1663

[140] https://www.nature.com/articles/s41591-021-01488-2

[141] https://academic.oup.com/jid/article/222/5/722/5860074

[142] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32511406/

[143] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33189161/

[144] https://www.thelancet.com/journals/lanres/article/PIIS2213-2600(20)30511-7/fulltext

[145] https://www.nih.gov/news-events/news-releases/nih-clinical-trial-testing-remdesivir-plus-interferon-beta-1a-covid-19-treatment-begins

[146] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32678530/

[147] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2021436?query=featured_home

[148] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2770279

[149] https://respiratory-research.biomedcentral.com/articles/10.1186/s12931-021-01833-6

[150] https://www.thelancet.com/pdfs/journals/lancet/PIIS0140-6736(21)01744-X.pdf

[151] https://www.who.int/news/item/06-07-2021-who-recommends-life-saving-interleukin-6-receptor-blockers-for-covid-19-and-urges-producers-to-join-efforts-to-rapidly-increase-access

[152] https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/resp.14152

[153] https://accpjournals.onlinelibrary.wiley.com/doi/epdf/10.1002/phar.2627

[154] https://www.nature.com/articles/s41598-021-99291-z

[155] https://jim.bmj.com/content/early/2021/09/24/jim-2021-002001

[156] https://www.nytimes.com/2020/12/13/health/Covid-remdesivir-arthritis-drug.html

[157] https://www.prnewswire.com/news-releases/lilly-and-incyte-announce-results-from-the-phase-3-cov-barrier-study-of-baricitinib-in-hospitalized-covid-19-patients-301264421.html

[158] https://www.nih.gov/news-events/news-releases/nih-closes-enrollment-trial-comparing-covid-19-treatment-regimens

[159] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2773108

[160] https://healthsci.mcmaster.ca/news-events/news/news-article/2021/08/13/anti-depressant-can-save-covid-patients-says-mcmaster-led-study

[161] https://www.nytimes.com/2021/03/06/world/americas/brazil-covid-bolsonaro-nasal-spray.html

[162] https://academic.oup.com/cid/advance-article/doi/10.1093/cid/ciaa1583/5932277?login=true

[163] https://www.cytodyn.com/investors/news-events/press-releases/detail/512/cytodyns-leronlimab-decreased-mortality-at-14-days-by

[164] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/therapies/cell-based-therapy/

[165] https://www.fda.gov/consumers/consumer-updates/fda-warns-about-stem-cell-therapies

[166] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.01.26.21250494v1

[167] https://www.nytimes.com/2020/08/10/health/stephen-hahn-fda.html

[168] https://www.thelancet.com/journals/lanres/article/PIIS2213-2600(21)00177-6/fulltext

[169] https://www.recoverytrial.net/news/recovery-trial-finds-no-benefit-from-azithromycin-in-patients-hospitalised-with-covid-19

[170] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26561745/

[171] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2777829?utm_campaign=articlePDF&utm_medium=articlePDFlink&utm_source=articlePDF&utm_content=jama.2021.4152

[172] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.03.10.21252749v1.full

[173] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)01203-4/fulltext

[174] https://www.nih.gov/news-events/news-releases/full-dose-blood-thinners-decreased-need-life-support-improved-outcome-hospitalized-covid-19-patients

[175] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.08.21258132v1

[176] https://www.mdpi.com/2072-6643/13/2/411/htm

[177] https://www.covid19treatmentguidelines.nih.gov/therapies/supplements/

[178] https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2776305?utm_source=twitter&utm_campaign=content-shareicons&utm_content=article_engagement&utm_medium=social&utm_term=021221#.YCcSxxpqnRA.twitter

5F

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *