Cập nhật về virus SARS-CoV 2 (11/10/2021)

17 min read

Đường lây truyền và nơi lây truyền

Đường lây

Cho đến tháng 5/2021, CDC Hoa Kỳ đã xác định phương thức lây truyền SARS-CoV-2 giữa người-và-người là thông qua tiếp xúc với các chất dịch hô hấp mang vi rút. Phơi nhiễm xảy ra theo ba cách chính: (1) hít phải các giọt và hạt khí dung, (2) lắng đọng các giọt và hạt hô hấp trên màng nhầy bị phơi nhiễm ở miệng, mũi hoặc mắt do bị bắn/xịt trực tiếp, và (3 ) chạm vào màng nhầy bằng tay đã bị dính bẩn một cách trực tiếp với dịch hô hấp có chứa vi rút hoặc thông qua gián tiếp bằng cách chạm vào bề mặt có vi rút trên đó[9]. Cụ thể:

  • Hít phải giọt bắn trong không khí: Hít phải không khí mang theo những giọt rất nhỏ và các hạt khí dung có chứa vi rút. Nguy cơ lây truyền là lớn nhất trong vòng ba đến sáu feet từ nguồn lây nhiễm (là nơi có nồng độ của những giọt và hạt khí dung này lớn nhất).
  • Sự lắng đọng của vi rút được mang theo trong các giọt và hạt khí dung ra trên các màng nhầy tiếp xúc (nghĩa là theo cơ chế “bắn và xịt”, ví dụ như khi bị người nhiễm ho bắn vào người). Tương tự như trên, nguy cơ lây truyền là lớn nhất khi ở gần với nguồn lây nhiễm nhất.
  • Tiếp xúc bề mặt bị nhiễm: dùng tay sờ vào màng nhầy bị nhiễm bẩn do dịch hô hấp thở/văng ra có chứa vi rút hoặc do chạm vào các bề mặt các vật liệu bị nhiễm vi rút (ví dụ bàn, giường bệnh…)

Nơi lây truyền

Trong một NC tổng quan hệ thống cho thấy hộ gia đình là nơi có tỷ lệ lây truyền cao nhất, với tỷ suất tấn công thứ phát là 21,1%. Tỷ suất tấn công này còn cao hơn đáng kể khi thời gian phơi nhiễm trong gia đình vượt hơn 5 ngày[10]. Trong khi đó, một số NC khác đã cho thấy khả năng truyền SARS-CoV-2 ở không gian ngoài trời thấp so với trong nhà/phòng kín[11].

Trong một NC khác đã ước tính tỷ suất tấn công thứ phát đối với các ca chỉ điểm (index case) không có triệu chứng là khoảng 14%, và tỷ suất này vào khoảng 66,7% đối với các ca chỉ điểm có triệu chứng. Điều này có nghĩa là khả năng lây truyền của các ca bệnh có triệu chứng cao hơn các ca không triệu chứng.

Tải lượng vi rút

Các yếu tố liên quan đến tải lượng

Một NC tổng quan hệ thống đã báo cáo tải lượng vi rút (định lượng qua RNA) trong các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp trên đạt giá trị cao nhất xung quanh thời điểm khởi phát triệu chứng hoặc một vài ngày sau đó, và không thể phát hiện được khoảng hai tuần sau khi khởi phát triệu chứng. Điều này có nghĩa là có thể các xét nghiệm khẳng định nhiễm SARS-Cov-2 (ví dụ RT-PCR) vẫn còn dương tính 2 tuần sau khi khở phát triệu chứng, nhưng nguy cơ lây truyền cho người khác là thấp vì tải lượng vi rút ở đường hô hấp trên là thấp. Một vài NC đưa ra bằng chứng về việc phát hiện vi rút trong 1 thời gian dài ở các mẫu phân, tuy nhiên ý nghĩa lâm sàng là không rõ ràng[12].

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối tương quan dương giữa tải lượng vi rút và tuổi của người bệnh. Một NC đã phân tích 25.381 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cho thấy trẻ em và thanh thiếu niên có tải lượng vi rút dương tính ở thời điểm được XN lần đầu tiên thấp hơn so với người lớn ở độ tuổi 20-65[13] [14]. Điều này có thể được hiểu là khả năng phát tán vi rút của trẻ em và thanh thiếu niên có khả năng thấp hơn so với người lớn. Tuy nhiên, cũng giống như người lớn, ở các ca bệnh trẻ em dương tính với SARS-Cov-2 thì trẻ có triệu chứng cũng có tải lượng vi rút cao hơn trẻ không có triệu chứng[15].

Một phân tích về tải lượng vi-rút trong các giọt bắn do bệnh nhân COVID-19 phát ra cho thấy hạt khí dung mịn (≤5μm) tạo ra trong quá trình nói chuyện (hoặc ca hát) chứa nhiều tải lượng vi-rút hơn so với hạt khí dung thô (> 5μm). Ngoài ra, hoạt động nói chuyện (hoặc ca hát) phát tán ra 1 lượng RNA vi rút có thể phát hiện được khi XN trong các hạt khí dung cao hơn hơn đáng kể so với hoạt động thở[16]. Điều này cho thấy các biện pháp giữ khoảng cách khi giao tiếp giữa người với người là cực kỳ quan trọng.

Tải lượng vi rút và mức độ trầm trọng của bệnh

Các bằng chứng về mối liên quan giữa tải lượng vi rút và mức độ trầm trọng của bệnh còn khá lẫn lộn. Một vài NC chỉ ra rằng tải lượng vi rút là như nhau ở các ca bệnh không và có triệu chứng[17]. Một số NC cho thấy có mối liên quan giữa tải lượng virus và mức độ nghiêm trọng/tử vong của bệnh. Một NC với mẫu bệnh phẩm quệt tỵ hầu cho thấy đối với mỗi đơn vị RNA vi rút được phát hiện tăng lênthì nguy cơ tử vong tăng 7%, trong khi đó một NC khác thì chỉ ra rằng tải lượng vi rút khi nhập viện không liên quan với nhập viện hoặc tử vong tại ICU[18] [19].

Tải lượng vi rút và khả năng lây nhiễm

Cho đến nay, có Ít nhất năm nghiên cứu đã mô tả mối tương quan giữa tải lượng vi rút giảm thì giảm khả năng lây nhiễm và ngược lại[20] [21] [22]. Đặc biệt trong 1 NC tại Thụy Sĩ đã cho thấy kích thước (độ lớn) của 1 chùm lây nhiễm có liên quan dương với sự hiện diện của các bệnh nhân có tải lượng vi rút cao trong các chùm lây nhiễm này [23].

Thời gian phát tán vi rút

Một tổng quan hệ thống được xuất bản vào tháng 1 năm 2021 đã cho biết thời gian loại bỏ RNA của vi rút  ở đường hô hấp trên trung bình là 17 ngày (dài nhất là 83 ngày), và ở đường hô hấp dưới là 14,6 ngày (dài nhất là 59 ngày) , trong phân là 17,2 ngày (dài nhất là 126 ngày), và trong mẫu huyết thanh là 16,6 ngày (dài nhất là 60 ngày)[24]. Thời gian loại bỏ vi rút sau khi phân tích gộp các kết quả nhiều NC khác nhau cho thấy có liên quan thuận với tuổi, nghĩa là tuổi BN càng lớn thì thời gian loại bỏ vi rút càng kéo dài. Một tổng quan hệ thống khác được công bố vào tháng 3 năm 2021 cũng đã báo cáo những phát hiện tương tự[25]. Ngoài ra, các BN suy giảm miễn dịch có thời gian phát tán virus  ở đường hô hấp trên dài hơn -nghĩa là thời gian loại bỏ vi rút lâu hơn (trung bình là 50,5 ngày, trong khoảng 35-74 ngày)[26].

Một phát hiện quan trọng nữa là không có nghiên cứu nào phát hiện vi rút sống sau ngày thứ 9 của bệnh, mặc dù tải lượng vi rút có thể cao liên tục. Tải lượng vi rút SARS-CoV-2 ở đường hô hấp trên dường như đạt đỉnh trong tuần đầu tiên của bệnh[27]. Điều này rất quan trọng trong việc quyết định thời gian theo dõi BN tại BV cũng như thời gian XN lại để đánh giá khả năng xuất viện của BN.

Thời gian ủ bệnh

Thời gian ủ bệnh trung bình đối với COVID-19 là 4,9 – 7 ngày, với phạm vi từ 1 – 14 ngày[28]. Hầu hết những người bị nhiễm bệnh sẽ phát triển các triệu chứng trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhiễm bệnh. Một tổng quan hệ thống gần đây đã cho thấy rằng thời gian ủ bệnh trung bình sau khi phân tích gộp các kết quả NC khác nhau là 6,5 (KTC 95%: 5,9-7,1)[29].

Động học của sự lây truyền

Virus có động lực lây truyền không đồng nhất giữa các NC[30]. Hầu hết mọi người không lây truyền vi rút, trong khi một số người lại gây ra nhiều ca nhiễm thứ cấp trong các chùm lây truyền và được gọi là “sự kiện siêu lây lan”[31]. Một số ước tính ban đầu cho thấy 80% các ca nhiễm thứ phát là phát sinh từ 8,9% các ca chỉ điểm[32].

Tỷ suất tấn công thứ phát (Secondary attack rate)

Một phân tích gộp meta-analysis của 54 nghiên cứu với 77.758 người tham gia đã cho thấy tỷ lệ tấn công thứ cấp nói chung trong hộ gia đình có người nhiễm là khoảng 16,6%[33]. Tỷ lệ tấn công thứ cấp trong hộ gia đình cao hơn trong trường hợp hộ gia đình có ca chỉ điểm có triệu chứng so với các hộ gia đình có ca chỉ điểm không có triệu chứng; cao hơn trong các tiếp xúc ở người lớn so với tiếp xúc trẻ em; ở mối liên hệ vợ chồng so với các liên hệ khác trong gia đình; và ở các hộ có 1 liên hệ (hiểu nôm na là ít thế hệ sinh sống trong 1 gia đình) so với các hộ có 3 hoặc nhiều liên hệ hơn (nhiều thế hệ hơn).

Đối với các CSYT, tỷ suất tấn công thứ phát vào khoảng 0,7% (tuy nhiên tỷ suất này có khoảng giao động rất rộng – 95%CI: 0,4%-1,0%)[34]. Điều này là do ở mỗi vị trí hoặc sử dụng các thủ thuật can thiệp điều trị khác nhau thì nguy cơ nhiễm bệnh là khác nhau. Ví dụ một tổng quan hệ thống và phân tích gộp cho thấy nguy cơ lây nhiễm của NVYT khi đặt nội khí quản có OR là 6,69 (95% CI, 3,81-11,72), thông khí không xâm lấn OR= 3,65 (95% CI, 1,86-7,19)…[35].

Ngoài ra còn 1 số ít NC về tỷ suất tấn công thứ phát ở các địa điểm khác[36], nên chưa có tổng quan hay phân tích gộp để đánh giá điều này. Tuy nhiên, tỷ suất tấn công thứ phát cao (cho thấy nguy cơ lây truyền cao) đã được chỉ ra trong 1 số NC như tỷ suất tấn công thứ phát trong khi tham gia 1 cuộc họp (84,6%), tụ tập trong một căn nhà gỗ (73,3%) và trong 1 dàn hợp xướng (70,4%, 53,3%). Tỷ suất này cũng tương đối cao trong các bối cảnh cùng ăn uống (38,8%, 28,6%), đi du lịch (80,8%, 46,6%), hoặc trong một sự kiện tôn giáo (14,8%). Một tổng quan các bằng chứng nhanh ước tính rằng tỷ suất tấn công thứ phát tại nhà trẻ và trường học là 2,54 ca nhiễm trên mỗi một ca chỉ điểm (KTC 95%: 0,76 – 5,31) và là 0,5% các trường hợp tiếp xúc gần ca chỉ điểm là trẻ em (KTC 95% = 0,1-1,6)[37]. Các bằng chứng này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra các quyết định mở cửa trường học hoặc khuyến cáo các hoạt động được cho phép.

Các biến thể vi rút cần quan tâm và theo dõi

Alpha (B.1.1.7) Beta (B.1.135) Gamme (P1) Delta (B.1.617.2)
Thời gian và địa điểm phát hiện lần đầu Anh

Tháng 9/2020

Nam Phi

Tháng 5/2020

Brazil

Tháng 11/2020

Ấn Độ

Tháng 10/2020

Đột biến 23 (17 trong số đó là thay đổi các amino acids)

Bao gồm thay thế N501Y

21 (8 trong số đó là thay đổi các amino acids)

Bao gồm thay thế N501Y

17 (11 trong số đó là thay đổi các amino acids)

Bao gồm thay thế N501Y

12

Bao gồm các đột biến gai L452R, E484Q và D614G và thiếu các đột biến ở vị trí amino acid 501 hoặc 484 trong thụ thể ACE2

Thay đổi P681R là 1 tính chất đặc biệt quan trọng của Delta*^

Được đặc trưng bởi sự dư thừa của các đột biến không đồng nghĩa (non-synonymous mutations),

Các dòng con có “bí danh” là AY. Delta-AY.1 (Delta với K417N)

Khả năng lây so với chủng đầu tiên Ước tính chủng này có Ro cao hơn 43–90% so với chủng hoang dã trước đây. Ro:3.5-5.2[38]

Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[39],[40]

Ước tính tỷ suất lây nhiễm cao hơn ở nhóm trẻ em từ 0-9 tuổi[41],[42].

Khả năng lây truyền gia tăng và ước tính là gấp 2.5 lần so với chủng hoang dã[43],[44] Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[45],[46] Ro: 3.2 – 8, trung bình là 5.0.

Tăng khả năng lây truyền và tỷ suất tấn công thứ phát so với loại hoang dã[47] đối với các tiếp xúc trong hộ gia đình và ngoài hộ gia đình[48].

Ước tính tải lượng virus cao hơn 2,5 lần so với các biến thể khác[49]. Tải lượng vi rút tương tự giữa người được tiêm chủng và người chưa được tiêm chủng[50].

Dữ liệu từ Anh cho thấy thời gian nhân đôi là 25 ngày[51]. Trung bình thời gian tiềm ẩn/âm thầm và thời gian ủ bệnh ước tính lần lượt là 4,0 ngày và 5,8 ngày[52]

Độc lực Tăng nguy cơ nhập viện, có khả năng tăng nguy cơ nghiêm trọng và tử vong[53],[54]

Nhiễm trùng trung bình kéo dài 13,3 ngày so với 8,2 ngày đối với các biến thể khác[55]

Có thể tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong trong bệnh viện[56]. Có thể tăng nguy cơ nhập viện[57] và mức độ nghiêm trọng của bệnh[58]. Tăng nguy cơ cần chăm sóc cấp cứu và nhập viện[59], bao gồm tăng nguy cơ sử dụng oxy, nhập viện chăm sóc đặc biệt và có thể tăng nguy cơ tử vong[60]

Đề kháng với Bamlanivimab[61] nhưng được ức chế hiệu quả với Etesevimab, Imdevimab và Casirivimab/ Imdevimab[62]

Một vài NC gợi ý là triệu chứng có thể khác với chủng hoang dã[63].

Thời gian mắc bệnh ước tính cho trẻ em là 5 ngày, với các triệu chứng bao gồm nhức đầu và sốt[64]

Tình trạng thoát vắc xin
Pfizer Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine với một số nghiên cứu cho thấy mức giảm hiệu quả vắc xin là 11,30 lần[65]
AstraZeneca Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine
Moderna Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm 20-<30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine
Novavax Giảm <10% hiệu quả của vaccine Giảm >=30% hiệu quả của vaccine Hiệu quả giảm[66]
J&J Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm >=30% hiệu quả của vaccine Giảm 10-<20% hiệu quả của vaccine Giảm <10% hiệu quả của vaccine
Vắc xin khác Sinovac-CoronaVac: giảm đáng kể dung lượng kháng thể trung hòa[67] Bharat-Covaxin (BBV152): mức độ trung hòa với ước tính giảm 3 lần[68].

Sinovac-CoronaVac: giảm đáng kể khả năng trung hòa kháng thể[69]

Sinovac-CoronaVac: ước tính giảm <10% hiệu quả của vaccine Sự lây truyền có liên quan đến sự trốn thoát khỏi các kháng thể nhắm mục tiêu đến các biểu mô gai không RBD và RBD[70]

Dưới đây là các báo cáo về Biến thể được quan tâm (VOI) được cập nhật trong các tài liệu chưa đăng tải chính thống:

Các VOI đươc WHO liệt kê:  Lambda (C.37) và Mu (B.1.621).

  • Biến thể Mu (B.1.621) được xem là 1 VOI vào ngày 30 tháng 8 năm 2021. Biến thể này bao gồm hậu duệ của Pango B.1.621.1. Biến thể Mu có một loạt các đột biến đặc tính tiềm ẩn của khả năng trốn thoát miễn dịch. Biến thể này lần đầu được xác định tại Colombia vào tháng 1 năm 2021[71]. Những báo cáo sớm nhất cho thấy Pfizer có 76%[72] hiệu quả vô hiệu hóa Mu, và khoảng 90.4% hiệu quả sau 2 liều Moderna[73].
  • Biến thể Lambda (C.37) được xem là 1 VOI vào ngày 14 tháng 6 năm 2021 và có liên quan đến tốc độ lây truyền cao ở nhiều quốc gia. Lambda được đặc trưng bởi các đột biến trong protein gai, bao gồm G75V, T76I, del247 / 253, L452Q, F490S, D614G và T859N với ước tính làm tăng khả năng lây nhiễm và trốn thoát miễn dịch[74]. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng các vắc xin đang được sử dụng hiện tại sẽ vẫn bảo vệ chống lại Lambda và liệu pháp kháng thể đơn dòng sẽ vẫn có hiệu quả[75].
  • Delta-AY.1 (Delta với K417N) đang được ghi nhận như là ‘Delta Plus và ‘Delta +’. Thông tin cho rằng có ít nhất 2 nhánh Delta riêng biệt với K417N. Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy AY.1 dễ lây truyền hoặc né tránh miễn dịch hơn Biến thể Delta. Delta với K417N có thể được phát hiện bằng xét nghiệm xác định kiểu gen. Dữ liệu sinh học gợi ý là Delta với K417N (AY.1) không có khả năng cho thấy sự thay đổi kháng nguyên đáng kể so với biến thể Delta[76].

Ngoài ra, các biến thể đang được theo dõi (Variants Under Monitoring – VUMs) được WHO liệt kê là: “cựu” VOI Eta (B.1.525), Iota (B.1.526), Kappa (B.1.617.1) và các dòng Pango khác.

Tài liệu tham khảo

[9] https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/science/science-briefs/sars-cov-2-transmission.html

[10] https://academic.oup.com/cid/article/73/3/e754/6131730

[11] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33249484

[12] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32615199/

[13] https://academic.oup.com/ije/advance-article/doi/10.1093/ije/dyab145/6366466

[14] https://science.sciencemag.org/content/early/2021/05/24/science.abi5273

[15] https://academic.oup.com/cid/advance-article/doi/10.1093/cid/ciab403/6370557

[16] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.15.21260561v1.full.pdf

[17] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-3012

[18] https://www.nature.com/articles/s41598-021-92400-y

[19] https://www.thelancet.com/journals/lanres/article/PIIS2213-2600(20)30354-4/fulltext

[20] https://www.who.int/publications/i/item/criteria-for-releasing-covid-19-patients-from-isolation

[21] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008#r122-M205008

[22] https://www.science.org/doi/full/10.1126/science.abi5273

[23] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0048969721025547

[24] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[25] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[26] https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/jmv.26970

[27] https://www.thelancet.com/journals/lanmic/article/PIIS2666-5247(20)30172-5/fulltext

[28] https://www.health.gov.au/news/australian-health-protection-principal-committee-ahppc-coronavirus-covid-19-statements-on-14-may-2020

[29] https://bmcinfectdis.biomedcentral.com/articles/10.1186/s12879-021-05950-x

[30] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008

[31] https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-5008

[32] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7185944/

[33] https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2774102

[34] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0240205

[35] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33749225/

[36] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0240205

[37] https://www.nccmt.ca/covid-19/covid-19-rapid-evidence-service/19

[38] https://www.science.org/doi/full/10.1126/science.abg3055

[39] https://www.who.int/publications/m/item/weekly-epidemiological-update-on-covid-19—29-june-2021

[40] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.03.21258302v1

[41] https://jamanetwork.com/journals/jamanetworkopen/fullarticle/2783851

[42] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.09.21260271v1.full.pdf

[43] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.03.03.21252706v1

[44] https://www.nature.com/articles/s41586-021-03402-9

[45] https://www.who.int/publications/m/item/weekly-epidemiological-update-on-covid-19—29-june-2021

[46] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.03.21258302v1

[47] https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2021.26.24.2100509

[48] https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/1018547/Technical_Briefing_23_21_09_16.pdf

[49] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8375250/

[50] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.31.21261387v1

[51] https://spiral.imperial.ac.uk/bitstream/10044/1/90800/2/react1_r13_final_preprint_final.pdf

[52] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.12.21261991v1

[53] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1473309921002905

[54] https://www.bmj.com/content/373/bmj.n1412

[55] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.02.16.21251535v1

[56] https://europepmc.org/article/ppr/ppr294748

[57] https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2021.26.16.2100348

[58] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.04.13.21255281v1

[59] https://www.thelancet.com/journals/laninf/article/PIIS1473-3099(21)00475-8/fulltext

[60] https://europepmc.org/article/ppr/ppr356279

[61] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.02.24.21252372v1

[62] https://gvn.org/covid-19/delta-b-1-617-2/

[63] https://covid.joinzoe.com/

[64] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.10.06.21264467v1

[65] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.23.21259327v1.full.pdf

[66] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.23.21264048v1

[67] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.10.21260232v1

[68] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.06.05.447177v1

[69] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.10.21260232v1

[70] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.26.21262699v1

[71] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.09.06.459055v1

[72] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.23.21264014v1

[73] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.09.29.21264199v1

[74] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.06.28.21259673v1

[75] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2021.07.02.450959v1

[76] https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/1012644/Technical_Briefing_21.pdf

5F

Cập nhật thông tin về thuốc điều trị Covid…

Đại dịch Covid là thách thức lớn đối với nhân loại. Cho tới hiện nay, vẫn chưa có phương thuốc chữa trị nào cho...
5F 5F
37 min read

Cập nhật 21/10/2021: Colchicine, Corticosteroid, Sarilumab, hậu Covid, nhiễm…

Điều trị Tổng quan hệ thống về sử dụng Corticosteroid để điều trị Covid. Colchicine: tổng quan hệ thống, kết quả thử nghiệm lâm...
5F 5F
1 min read

Cập nhật 19/10/2021: Sputnik Light, Prednisolon, Điều trị, Tải…

Điều trị Mối liên quan giữa điều trị glucocorticoid và chậm thanh thải virus ở bệnh nhân COVID-19: một tổng quan hệ thống và...
5F 5F
3 min read

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *